vanban.org

Bản án 110/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 12/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Duy L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-3-2022. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Duy Lợi - CYGTT - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2022/HSST
Ngày: 12-5-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Anh Tuấn

2. Bà Trần Thị Nhung

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ích Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Duy L, sinh năm 1990; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 5/94 V, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số nhà 3/162 Vĩnh Trường, phường Lộc Vượng, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 6/12; con ông: Đỗ Quốc Th, sinh năm 1967 và bà: Lê Quý Ng, sinh năm 1967; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Nguyễn Thị Thùy D (Đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29-11-2013 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; ngày 22-01-2016 Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17-02-2017 Công an phường Lộc Vượng, thành phố N xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 14-4-2017 Công an phường Lộc Vượng, thành phố N xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 27-6-2017 Công an phường Lộc Vượng, thành phố N xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền”; ngày 07-9-2017 Tòa án nhân dân thành phố N ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 24 tháng; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-3-2022 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố N (Có mặt).

Bị hại: Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Số nhà 102/84 H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Duy L và chị Hoàng Thị Ng, sinh năm 1986, trú tại: Xóm 2 xã T, huyện T, tỉnh Nam Định có quan hệ tình cảm với nhau và cả hai cùng chơi với chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1978; trú tại: Số nhà 102/84 H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định, anh Ngô Quốc Hưng, sinh năm 1977; trú tại: Số nhà 180 tổ 16, Vĩnh Trường, phường Lộc Vượng, thành phố N. Trong quá trình đi lễ chùa với nhau, chị H còn nợ tiền mua sắm đồ lễ của chị Ng nên chị Ng đã đòi nhiều lần nhưng chị H chưa trả. Khoảng 17 giờ ngày 05-11-2021, chị Ng rủ Lợi đi tìm chị H đòi số tiền chị H còn nợ. Lợi đồng ý và mang theo 01 gậy bằng kim loại dạng gậy rút 03 khúc hình trụ tối màu dài khoảng 80cm giấu vào trong người, chị Ng không biết việc này. Lợi và chị Ng đến nhà anh Hưng ở 180 tổ 16 Vĩnh Trường, phường Lộc Vượng, thành phố N tìm gặp chị H nhưng nhà đóng cửa nên đứng bên ngoài gọi thì không có ai ra mở. Chị Ng và Lợi đứng bên ngoài chửi bới một lúc rồi bỏ đi. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Lợi và chị Ng tiếp tục quay lại nhà anh Hưng tìm chị H thì thấy bà Đào Thị H, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Th, sinh năm 1959, cùng trú tại tổ 14 phường Lộc Hạ, thành phố N đến nhà anh Hưng chơi nên đi theo. Anh H đi ra mở cửa để bà Thủy và bà Hoa vào thì chị Ng và Lợi đi vào theo. Thấy vậy, chị H đang ở trong nhà anh Hưng đi ra chặn cửa, không cho Lợi và chị Ng vào dẫn đến chị Ng và chị H dùng tay xô đẩy, túm tóc đánh nhau. Thấy chị H đánh chị Ng, nên Lợi lấy chiếc gậy kim loại ở trong người ra cầm ở tay phải đi đến dùng tay trái túm tóc, dúi đầu chị H xuống rồi dùng đầu gối phải lên gối vào vùng ngực chị H và dùng gậy kim loại ở tay phải gõ nhẹ 01 phát vào vùng đầu chị H không gây thương tích gì. Chị H và chị Ng tiếp tục chạy ra sân trước dùng tay túm tóc đánh nhau thì Lợi tiếp tục đi đến, đứng phía sau chị Ng rồi dùng gậy kim loại vụt 02 phát từ phải sang trái trúng vào mạn sườn trái của chị H gây thương tích. Sau đó, được mọi người can ngăn nên chị Ng và Lợi đã bỏ đi còn chị H được đưa đến bệnh viện cấp cứu. Hậu quả: Chị H bị chấn thương ngực kín, tràn khí màng phổi trái.

Ngày 15-12-2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Phạm Thị Thu H.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 230/22/TgT ngày 11-01-2022 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 06%. Cơ chế hình thành vết thương: Chấn thương ngực kín do tác động mạnh với vật tày gây nên.

Ngày 10-2-2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N thi hành lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đỗ Duy L. Tuy nhiên, Lợi không có mặt tại địa phương nên ngày 07-3-2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã đối với Lợi. Đến ngày 13-3-2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã bắt được Lợi. Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Duy L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về vấn đề dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, chị Phạm Thị Thu H yêu cầu Đỗ Duy L bồi thường số tiền 30 triệu đồng, Lợi nhất trí nhưng đến nay chưa bồi thường.

Về vật chứng: Chiếc gậy bằng kim loại Đỗ Duy L sử dụng gây thương tích cho chị H đã bị Lợi vất xuống hồ Lộc Vượng, thành phố N nên không thu hồi được.

Bản cáo trạng số 103/CT-VKSTPNĐ ngày 07-4-2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Đỗ Duy L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Duy L khai nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương tích như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đánh giá mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó Kiểm sát viên đã giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51BLHS: Xử phạt bị cáo Đỗ Duy L từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: buộc bị cáo phải bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Bị cáo Đỗ Duy L và bị hại đều không tranh luận gì;

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Duy L không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Duy L tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của bị hại, lời khai của những người làm chứng, kết luận giám định của trung tâm pháp y tỉnh Hà Nam và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 05-11-2021, tại số nhà 180 tổ 16 Vĩnh Trường, phường Lộc Vượng, thành phố N, có sự ẩu đả, đánh nhau giữa chị H và chị Ng. Do bênh vực chị Ng, Đỗ Duy L đã có hành vi túm tóc, dùng đầu gối phải lên gối vào vùng ngực chị Phạm Thị Thu H và dùng 01 gậy kim loại vụt 02 phát vào mạn sườn trái của chị H gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 06%. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi dùng gối đánh vào vùng ngực và dùng gậy kim loại vụt vào mạn sườn là có khả năng gây ra thương tích cho chị H mà hậu quả xảy ra khó lường, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Vì vậy tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là có căn cứ.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Đỗ Duy L đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sức khỏe của công dân được pháp luật bảo hộ, gây mất trật tự an toàn xã hội, bị cáo có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị kết án (Đã được xóa án tích) và nhiều lần bị xử phạt hành chính (Đã được xóa tiền sự). Vì vậy lần phạm tội này cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nghiêm khắc cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân lương thiện và góp phần phòng ngừa tội phạm chung, nên quan điểm đề suất của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.

Về bồi thường dân sự: Chị Phạm Thị Thu H yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản tiền cứu chữa và phục hồi sức khoẻ tổng thể là 30 triệu đồng; trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Đỗ Duy L đã đồng ý bồi thường theo mức trên. Xét thấy sự thoả thuận giữa bị cáo và bị hại phù hợp quy định tại Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Đỗ Duy L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Duy L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Đỗ Duy L 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13-3-2022.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Bị cáo Đỗ Duy L phải bồi thường cho chị Phạm Thị Thu H số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

4. Án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Đỗ Duy L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự.

5. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Đỗ Duy L và chị Phạm Thị Thu H có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ