vanban.org

Bản án 110/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Võ Thành T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/7/2022. Hoàn trả cho chị Lý Thanh T: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Novuo, màu trắng xanh, biển số 54T1 – 9991. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cấp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CG
TỈNH L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2022/HSST
Ngày: 29-12-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.

Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Vững.

Bà Nguyễn Thị Kim Cương.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CG.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CG: Ông Bùi Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CG, T hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2022/TLST - HS ngày 23 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2022/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Võ Thành T, sinh năm: 1993.

Nơi đăng ký thường trú: 875A Tổ 32 đường Hà Hoàng Hổ, khóm Đông An 2, phường Mỹ Xuyên, thành phố X, tỉnh AG; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: phụ hồ; Dân tộc: kinh; Giới tính: N; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt N; con ông Võ Thành Nhung và bà Trần Thị Thanh Thúy (đã chết); Bản thân có vợ tên Lý Thanh T, có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số: 581/QĐ – TA, ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp. M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 17/10/2020, chưa được xóa tiền sự; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/7/2022 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Ngƣời bị hại: Nguyễn Nhất N, sinh năm: 1993 (vắng mặt).

Cư trú: 1902 Phạm Thế Hiển, Phường 6, Quận 8, Tp. M

Ngƣời có quyền L, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lý Thanh T, sinh năm: 1990 (có mặt).

Cư trú: Tổ 33 khu phố Phước Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

Ngƣời làm chứng:

1/ Trần Thị L, sinh năm: 1960 (vắng mặt).

2/ Nguyễn Thanh Qu, sinh năm: 1968 (vắng mặt).

Cùng cư trú: ấp Tân Điền, xã Long Thượng, huyện CG, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/7/2022, Võ Thành T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Novuo, màu trắng xanh, biển số: 54T1 – 9991 chở theo con gái tên Võ Lý Quỳnh Hương, sinh năm: 2018 đi từ nhà trọ tại Ấp 4, xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, Tp. M xuống địa bàn huyện CG, tỉnh L để tìm tài sản trộm bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi trên đường ĐT 14 thuộc ấp Tân Điền, xã Long Thượng, huyện CG. T nhìn thấy nhà của anh Nguyễn Nhất N cửa khép hờ, không có người trông coi nên đậu xe lại đi vào lấy 10 ghế nhựa rồi chở về nhà trọ cất giấu. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T tiếp tục điều khiển xe môtô, biển số: 54T1 – 9991 chở theo con gái đến nhà của anh N để lấy trộm. Quan sát xung quanh thấy không có ai, T đậu xe trước cửa nhà rồi đi vào lấy 01 đế máy xay sinh tố bỏ vào tủ đông. Sau đó, T đỡ 01 đầu tủ đông kê trên ghế gỗ, đầu còn lại đỡ lên yên xe rồi dịch chuyển toàn bộ tủ đông lên yên xe và dùng dây buộc lại. T tiếp tục đi vào lấy 01 máy dập nắp ly và 01 máy sấy tóc bỏ vào trong thùng giấy và kéo ra ngoài. Khi chuẩn bị nổ máy xe tẩu thoát thì bà Trần Thị L phát hiện, tri hô và cùng người dân bắt giữ rồi giao cho Công an xã Long Thượng làm việc. Tại đây, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận định giá tài sản số: 58/KLĐG ngày 29/7/2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện CG kết luận:

- 01 máy sấy tóc màu đen, hiệu BlueStone (Tại thời điểm mất trộm máy sấy tóc vẫn còn hoạt động bình thường, tài sản đã thu hồi được). Hội đồng thống nhất xác định giá trị tài sản trên là: 143.000 đồng.

- 01 tủ đông màu trắng, hiệu Freezer Darling (Tại thời điểm mất trộm tủ đông vẫn còn hoạt động bình thường, tài sản đã thu hồi được). Hội đồng thống nhất xác định giá trị tài sản trên là: 3.750.000 đồng.

- 01 máy dán miệng ly dập tay hiệu Eton – D7 (Tại thời điểm mất trộm máy dập nắp ly vẫn còn hoạt động bình thường, tài sản đã thu hồi được). Hội đồng thống nhất xác định giá trị tài sản trên là: 485.166 đồng.

- 01 đế máy xay sinh tố hiệu OmniBlend V – JTC (Tại thời điểm mất trộm đế máy xay sinh tố vẫn còn hoạt động bình thường, tài sản đã thu hồi được). Hội đồng thống nhất xác định giá trị tài sản trên là: 1.420.000 đồng.

- 10 cái ghế nhựa hiệu Việt Nhật (Tài sản đã thu hồi được). Hội đồng thống nhất xác định giá trị tài sản trên là: 372.666 đồng.

Tổng giá trị của các tài sản trên là: 6.170.832 đồng.

Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKSCG, ngày 22/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CG truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Võ Thành T từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về tang vật: đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự. Hoàn trả cho chị Lý Thanh T: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Novuo, màu trắng xanh, biển số: 54T1 – 9991.

Đối với: 01 tủ đông màu trắng; 01 máy sấy tóc; 01 máy dập nắp ly; 01 đế máy xay sinh tố và 10 ghế nhựa. Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh N, là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh N không có yêu cầu.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo trong lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CG, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 28/7/2022, tại nhà của anh Nguyễn Nhất N, do không có người trông giữ, nên bị cáo T lấy trộm của anh N 10 cái ghế nhựa. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, T tiếp tục lấy trộm của anh N 01 tủ đông màu trắng; 01 máy sấy tóc; 01 máy dập nắp ly; 01 đế máy xay sinh tố. Tổng giá trị tài sản là 6.170.832 đồng (Sáu triệu một trăm bảy mươi nghìn tám trăm ba mươi hai đồng). Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000 đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.

Xét về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự: không

Xét về tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít ngiêm trọng, phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét về nhân thân, bị cáo có 01 tiền sự: theo Quyết định số: 581/QĐ – TA, ngày 15/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Tp. M áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 17/10/2020, chưa được xóa tiền sự. Do đó xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt chính là phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với chị Lý Thanh T là chủ sở hữu xe môtô, biển số: 54T1 – 9991. Việc bị cáo T sử dụng xe này làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, chị T không biết nên Cơ quan CSĐT không xem xét trách nhiệm hình sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” với vai trò đồng phạm là có căn cứ.

Về tang vật thu giữ: Cơ quan CSĐT đã thu hồi và hoàn trả: anh Nguyễn Nhất N tài sản bị cáo lấy trộm gồm: 01 tủ đông màu trắng; 01 máy sấy tóc; 01 máy dập nắp ly; 01 đế máy xay sinh tố và 10 ghế nhựa, là phù hợp. Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Novuo, màu trắng xanh, biển số 54T1 – 9991. Tại phiên tòa bị cáo và vợ là chị Lý Thanh T khai là sau khi bị cáo đi tập trung cai nghiện về, chị T đưa cho bị cáo số tiền 4.000.000 đồng để mua xe làm phương tiện đi lại và hiện giấy chứng nhận đăng ký xe đã cầm cố. Xét thấy xe mô tô là tài sản của chị T, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, chị T không biết, nên hoàn trả xe mô tô cho chị T là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: người bị hại anh N đã nhận lại tài sản. Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 91) không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Võ Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Võ Thành T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/7/2022.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (29/12/2022) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự.

Hoàn trả cho chị Lý Thanh T: 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha, loại Novuo, màu trắng xanh, biển số 54T1 – 9991.

Hiện vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện CG đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 85/QĐ-VKSCG, ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CG.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo và người có quyền L, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ