vanban.org

Bản án 110/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 24/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Hà Thị B 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 08/7/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hà Thị B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2022/HS-ST
Ngày: 24/10/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - CAO BẰNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Kim Chi

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Danh Thùy

2. Ông Nông Văn Vụ

- Thư ký phiên toà: Ông Lục Đức Long - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Quỳnh Như - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2022, Tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 93/2022/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Hà Thị B; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 07/11/1987 tại huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nơi ĐKHKTT: Tổ 05, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không nghề; Chức vụ đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 10/12 phổ thông; Con ông: Bế Văn T và bà: Hà Thị Đ; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Chồng: Hà Văn L - sinh năm 1986 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng, từ ngày 08/7/2022 đến nay; Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Y - sinh năm 1987;

Địa chỉ: Tổ 03, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

- Người làm chứng:

1. Chị HoàngBT - sinh năm 1988;

Địa chỉ: Tổ 03, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

2. Anh Nguyễn Đình L - sinh năm 1992;

Địa chỉ: Xóm Nam Phong 2, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng;

Có mặt bị hại, vắng mặt người làm chứng có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng đầu tháng 10/2018, Hà Thị B (sinh năm 1987; trú tại: Tổ 05, phường S, thành phố Cao Bằng) bán hoa quả trước Cửa hàng quần áo “bão quảng châu” của Nguyễn Thị Y (sinh năm 1987) tại khu vực tổ 09, phường H, thành phố Cao Bằng. Khoảng 19h ngày 21/10/2018, B hỏi mượn điện thoại của Y để lắp sim điện thoại của B vào dùng liên hệ với người nhà nhằm mục đích chiếm đoạt chiếc điện thoại của Y đem bán lấy tiền tiêu dùng cá nhân. Do tin tưởng B nên Y đưa điện thoại OPPO F9 màu đỏ cho B mượn. B tháo sim đưa cho Y rồi lắp sim điện thoại của B vào điện thoại OPPO F9 và nói với Y cho B mang điện thoại để đi đón con rồi sẽ quay lại trả cho Y. Sau đó B đã không quay lại và khoảng 14h ngày 24/10/2018 B đem điện thoại OPPO F9 của Y đến Cửa hàng điện thoại H (tại tổ 06, phường T, thành phố Cao Bằng) bán được 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). B dùng 1.600.000 đồng (một triệu sáu trăm nghìn đồng) thanh toán tiền sửa điện thoại của B, số tiền còn lại B đã tiêu dùng cá nhân hết. Sau đó, một mình B đi đến khu vực biên giới thuộc huyện T làm thuê. Đến ngày 20/11/2018, B về thành phố Cao Bằng đã tìm gặp Y để xin lỗi, nhưng không trả lại tài sản. Tại cơ quan điều tra, Hà Thị B thừa nhận toàn bộ sự việc như đã nêu ở trên.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 54 ngày 28/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: Giá trị chiếc điện thoại OPPO F9 là 7.305.500 đồng (bảy triệu ba trăm linh năm nghìn năm trăm đồng).

Ngày 28/12/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Hà Thị B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong thời gian điều tra vụ án, B bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Ngày 25/02/2019, cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã ban hành Quyết định truy nã số 02. Đến ngày 08/7/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã bắt được Hà Thị B tại phường Đ, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động Iphone 6s Plus; 01 (một) chứng minh thư nhân dân số 085909600 mang tên Hà Ngọc Bích.

Tại Bản cáo trạng số: 98/CT - VKSTP ngày 29 tháng 9 năm 2022. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hà Thị B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo qui định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên toà:

Bị cáo B khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bị hại Nguyễn Thị Y xác nhận 01 điện thoại OPPO F9 màu đỏ thuộc sở hữu của bị hại, nay yêu cầu bị cáo bồi thường theo giá trị mà Hội đồng định giá đã định giá là 7.305.500đ.

Bị cáo, bị hại thỏa thuận nhất trí bị cáo có trách nhiệm bồi thường 01 điện thoại OPPO F9 cho bị hại Y với giá là 7.305.500đ và không yêu cầu tính lãi do chậm trả.

Đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào khoản 1 Điều 174 của Bộ Luật hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Hà Thị B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Về hình phạt, đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Thị B, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Hà Thị B từ 12 - 15 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 của Bộ luật dân sự đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại là bị cáo có trách nhiệm bồi thường 01 điện thoại OPPO F9 cho bị hại Y với giá là 7.305.500đ và không yêu cầu tính lãi do chậm trả.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ vào các Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự xử:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chứng minh thư nhân dân số 085909600 mang tên Hà Ngọc B, sinh ngày 07/11/1987, cấp ngày 05/6/2017 vì đây là giấy tờ giả không được phép lưu hành.

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu bạc (màn hình cảm ứng), số IMEI 358606074310501, máy cũ đã qua sử dụng vì đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí, đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với bản luận tội của kiểm sát viên về tội danh và hình phạt. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua đó đã chứng minh được: Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khoảng 19h ngày 21/10/2018, Hà Thị B đã tạo lý do mượn điện thoại di động OPPO F9 của Nguyễn Thị Y để liên hệ với người thân rồi đem đến Cửa hàng điện thoại H bán được 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng) lấy tiền chi tiêu cá nhân hết rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: ...”

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Hà Thị B tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo Hà Thị B đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm pháp, nhưng do bản thân bị cáo thích ham chơi, lười lao động, để có tiền chi tiêu phục vụ nhu cầu cá nhân, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra khai báo thành khẩn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Hà Thị B là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, nhưng do bản thân bị cáo tuy không có tiền nhưng lại thích đua đòi, ham chơi, lười lao động. Để có tiền phục vụ chi tiêu của bản thân bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo tuy là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng sau khi bị cơ quan điều tra khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bị cáo không chấp hành mà bỏ trốn khỏi địa phương gây khó khăn cho cơ quan điều tra. Do đó, việc để bị cáo ở ngoài xã hội là không đảm bảo mà cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo cải tạo bản thân trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội sau này, đồng thời để phòng ngừa bị cáo tiếp tục phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, chưa có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo, bị hại thỏa thuận là bị cáo có trách nhiệm bồi thường 01 điện thoại OPPO F9 cho bị hại Y với giá là 7.305.500đ và không yêu cầu tính lãi do chậm trả. Thỏa thuận của bị cáo và bị hại là tự nguyện, nội dung thỏa thuận không trái luật, không trái đạo đức xã hội nên cần được ghi nhận.

Về việc xử lý vật chứng:

Đối với 01 chứng minh thư nhân dân số 085909600 mang tên Hà Ngọc Bích, sinh ngày 07/11/1987, cấp ngày 05/6/2017. Đây là giấy tờ giả không được phép lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu bạc (màn hình cảm ứng), số IMEI 358606074310501, máy cũ đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Hà Thị B.

Tuyên bố: Bị cáo Hà Thị B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Hà Thị B 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, ngày 08/7/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 của Bộ luật dân sự, ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại là bị cáo có trách nhiệm bồi thường 01 điện thoại OPPO F9 cho bị hại Y với giá là 7.305.500đ và không yêu cầu tính lãi do chậm trả.

Trách nhiệm dân sự này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào các Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chứng minh thư nhân dân số 085909600 mang tên Hà Ngọc B - sinh ngày 07/11/1987, cấp ngày 05/6/2017.

- Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu bạc (màn hình cảm ứng), số IMEI 358606074310501, máy cũ đã qua sử dụng

Vật chứng trên hiện đang được lưu tại kho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 01 ngày 04/10/2022.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Buộc bị cáo Hà Thị B phải chịu nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm để sung Ngân sách nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ