- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Thanh V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2022/HS-PT Ngày 25-3-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Hồng Sơn
Bà Nguyễn Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/TLPT-HS ngày 14
tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo Lâm Thanh V do có kháng cáo của bị cáo đối
với Bản án hình sự sơ thẩm số: 538/2021/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2021 của
Tòa án nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lâm Thanh V; Sinh ngày 30/12/1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Thường trú: 22/3 đường A, Khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ
Chí Minh; Tạm trú: Nhà không số, đường B, Tổ D, Khu phố E, phường P, thành
phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Nhân viên dọn dẹp vệ sinh Công
ty Dịch vụ công ích Quận E; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính:
Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm Thanh L và bà
Nguyễn Thị O; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Thanh V là nhân viên vệ sinh của Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích Quận E được phân công dọn dẹp vệ sinh tại Chung cư An Lộc 1, Khu phố 5, phường H, thành phố T. Khoảng tháng 4/2021, trong lúc làm việc dưới hầm B1 Chung cư An Lộc 1, V thấy xe mô tô hiệu Exciter 150 màu trắng đỏ đen, biển số 78H1-326.52 để tại đây đã lâu, ít sử sụng, không rõ chủ sở hữu nên nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô về bán kiếm tiền tiêu xài.
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/5/2021, V điều khiển xe mô tô hiệu
Winner biển số 59B1-581.47 đến Chung cư An Lộc 1 làm việc. V để xe mô tô Winner trong tầng hầm B1 chung cư nhưng không lấy thẻ xe (do đã quen với bão vệ bãi giữ xe). Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc bảo vệ bãi giữ xe tầng hầm B1 là anh Trần Văn Hiền đi ăn trưa, không có mặt tại cổng gửi xe thì V dắt xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150 màu trắng đỏ đen biển số 78H1-326.52 từ dưới hầm để xe lên dựng tại trước Trường THPT Thủ Thiêm, số 1 Vũ Tông Phan, phường A, thành phố T. Sau đó, V điều khiển xe mô tô hiệu Winner biển số 59B1-581.47 của V về nhà tại đường B, phường P, thành phố T.
Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Thái Thanh Hiền Vi là bạn gái của V
điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 59B1-617.11 đến nhà đón V rồi cả hai cùng đến khách sạn phường P, thành phố T. Đến khoảng 15 giờ 00 phút, V mượn xe mô tô của Vi rồi gọi điện thoại cho Lê Thanh Tùng (tên thường gọi Tùng Khở) hỏi “Em đang ở đâu, có rảnh không” thì Tùng trả lời “Rảnh và đang ở nhà” nên V đến đón Tùng. Sau khi V chở Tùng đi thì Tùng mới hỏi V “Đi đâu vậy Ba” thì V nói “Lên chỗ làm ở Quận 2 phụ đẩy xe của anh Ba” nên Tùng đồng ý. V chở Tùng đi hướng dẫn cao tốc Long Thành - Dầu Giây đến trước Trường THPT Thủ Thiêm, phường A, thành phố T thì Tùng thấy trên vỉa hè có dựng xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng đỏ đen, cùng một số xe mô tô khác. V lại dắt xe mô tô hiệu Yamaha Exciter biển số 78H1-326.52 xuống đường rồi nhờ Tùng ngồi lên xe để V đi xe Honda Airblade dùng chân đạp vào chỗ để chân bên trái xe Yamaha Exciter đẩy về bãi đất trống cạnh cây dừa trước nhà V.
Sáng ngày 03/5/2021, V nhờ thợ sửa khóa làm lại chìa khóa xe mô tô để
sử dụng. Đến chiều cùng ngày, V nhắn tin liên lạc bán xe trên cho Nguyễn Phước Lộc. Sau đó, V nhờ Tùng qua mang xe Yamaha Exciter đi bán, Tùng chạy xe Yamaha Exciter còn V đi xe mô tô Vision chạy tới cửa hàng mua bán xe mô tô “Nhật Minh 126” địa chỉ 163 Đặng Văn Bi, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức để bán cho Lộc với giá 5.000.000 đồng. V giữ lại 4.500.000 đồng đã tiêu xài hết và cho Tùng 500.000 đồng.
Khoảng 18 giờ ngày 03/5/2021, Lộc bán xe mô tô trên cho Võ Minh Nhựt
tại địa chỉ số 01 đường Lê Văn Minh , phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức với giá 7.000.000 đồng. Sau đó, Nhựt liên hệ bán xe mô tô trên cho Tèo (không rõ lai lịch) tại gần chợ Phạm Văn Hai, quận Tân Bình với giá 8.500.000 đồng.
Đến khoảng 10 giờ ngày 23/5/2021, ông Vũ Huỳnh Nhi xuống tầng hầm
để xe chung cư An Lộc 1, Khu phố 5, phường A, thành phố T để lấy xe mô tô
thì phát hiện bị mất trộm. Ông Nhi và bảo vệ Chung cư tụ thương lượng bồi
thường xe nhưng không được nên đến ngày 26/5/2021 ông Nhi đến Công an
phường A trình báo sự việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 153-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày
14/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban
nhân dân thành phố Thủ Đức, kết luận: “01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha số loại
Exciter 78H1-326.52 có giá 19.500.000 đồng.
Tại Bản án số: 538/2021/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Tòa án
nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung, năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lâm Thanh V 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo
của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Ngày 17/01/2022, bị cáo Lâm Thanh V có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lâm Thanh V bổ sung yêu cầu kháng cáo
xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân
tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tuy nhiên, việc cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm xác định ông Võ Huỳnh Nhi là bị
hại nhưng không xem xét giao dịch gửi giữ tài sản giữa ông Nhi với Công ty
TNHH ĐT-DV Đại Lâm Mộc để xác định người có quyền quản lý tài sản tại
thời điểm chiếm đoạt là bị hại của vụ án. Do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng
tố tụng trong việc xác định tư cách bị hại của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử
cấp phúc thẩm căn cứ Điều 358 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bản án sơ thẩm
để điều tra, truy tố, xét xử lại.
Bị cáo V không tự bào chữa và không tham gia tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án
treo để làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Lâm Thanh V về nội dung quyền kháng cáo
và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Căn cứ lời khai của bị cáo Lâm Thanh V tại phiên tòa phúc thẩm, cùng
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/5/2021, tại bãi giữ xe tầng hầm
B1, Chung cư An Lộc 1, khu phố 5, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, lợi dụng thời điểm anh Trần Văn Hiền là nhân viên Công ty Công ty TNHH ĐT-DV Đại Lâm Mộc (Công ty Đại Lâm Mộc) đang thực hiện ca trực bảo vệ hầm gửi xe đi ăn trưa, Lâm Thanh V đã có hành vi lén lút tiếp cận rồi chiếm đoạt xe mô tô biển số 78H1-326.52 do ông Vũ Huỳnh Nhi đứng tên chủ sở hữu. Tài sản chiếm đoạt được định giá trị giá 19.500.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt được xe trên, V thuê thợ sửa khóa làm lại chìa khóa xe rồi liên hệ với Nguyễn Phước Lộc bán xe trên với giá 5.000.000 đồng, V chia cho Lê Thanh Tùng 500.000 đồng. Số tiền còn lại V đã tiêu xài cá nhân hết. Bản án sơ thẩm số 538/2021/HS-ST ngày 23/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt bị cáo Lâm Thanh V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, việc cấp sơ thẩm không xem xét đến giao dịch gửi giữ tài sản giữa ông Nhi với Công ty Đại Lâm Mộc; chưa xác minh, làm rõ hợp đồng dịch vụ bảo vệ hầm giữ xe Chung cư An Lộc 1 để xác định tư cách tố tụng của Công ty Đại Lâm Mộc là chưa phù hợp với quy định tại Điều 62 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đồng thời, cấp sơ thẩm chưa làm rõ tại thời điểm bị cáo V dắt xe ra khỏi tầng hầm B1 mà bảo vệ không biết để làm rõ trách nhiệm của bảo vệ ca trực tại thời điểm vụ án xảy ra vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, tại thời điểm chiếm đoạt, ông Vũ Huỳnh Nhi đang gửi xe tại hầm B1 chung cư An Lộc 1, Công ty Đại Lâm Mộc có cấp thẻ giữ xe (dạng thẻ từ, có số No.1688) cùng phiếu thu số 204/05/2021, thể hiện ông Nhi có sử dụng dịch vụ gửi xe số theo tháng của công ty. Do lúc này giao dịch gửi giữ tài sản đang được thực hiện, ông Nhi vẫn giữ thẻ gửi xe nên Công ty Đại Lâm Mộc phải được xác định là người quản lý hợp pháp xe mô tô biển số 78H1-326.52. Mặt khác, các tình tiết khách quan của vụ án thể hiện bị cáo có hành vi “lén lút” với người quản lý tài sản tại thời điểm chiếm đoạt mà không phải lén lút với chủ sở hữu hợp pháp tài sản, do đó cần xác định lại tư cách tố tụng bị hại trong vụ án.
Về trách nhiệm của các đối tượng Nguyễn Phước Lộc, Võ Minh Nhựt
là người tiêu thụ xe mô tô biển số 78H1-326.52. Tại bản án sơ thẩm xác định quá
trình điều tra không chứng minh được Lộc, Nhựt biết xe mô tô trên là tài sản do
việc phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý hình sự đối với Lộc và Nhựt. Tuy
nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện, tại bản tường trình (bút lục 113), biên bản ghi lời khai
(bút lục 111-112), Nguyễn Phước Lộc khai nhận: Ngày 03/5/2021, Lộc có mua của
Dẹo (tức V) 01 xe mô tô Exiter màu trắng, biển số 78H1-326.52, khi mua xe Dẹo
có nói cho Lộc biết đây là xe không rõ nguồn gốc và nghi là xe ăn trộm mà có. Sau
đó, Lộc đồng ý mua lại xe với giá 5.000.000 đồng. Tại biên bản kiểm tra Võ Minh
Nhựt (bút lục 35), bản tường trình (bút lục 128) Võ Minh Nhựt khai nhận: Khi giao
dịch mua bán xe mô tô Exciter thì xe hoạt động tốt, không có giấy đăng ký xe, xe
mua bán từ 7.000.000 đồng đến 8.500.000 đồng là rất rẻ so với giá thị trường do
đó, Nhựt biết rõ xe mô tô mà Nhựt mua lại của Lộc là do người khác phạm tội mà
có. Mặc dù, quá trình điều tra các đối tượng Lộc, Nhựt thay đổi lời khai. Tuy
nhiên, xét lời khai ban đầu của các đối tượng là phù hợp với nội dung tin nhắn giao
dịch mua bán xe giữa Lộc và V, do Lộc cung cấp; phù hợp với giá giao dịch mua
bán xe giữa bị cáo với Lộc và giữa Lộc với Nhựt là thấp hơn nhiều lần giá trị xe
theo kết luận định giá tài sản. Xét, cần tiếp tục điều tra, đấu tranh làm rõ hành vi
mua bán tài sản không rõ nguồn gốc của Lộc và Nhựt. Nếu có căn cứ thì xử lý theo
quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời cần tiếp tục
đấu tranh, làm rõ hành vi mua bán tài sản không rõ nguồn gốc đối tượng Lộc,
Nhựt, nên xét cần hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm để giải
quyết theo thủ tục chung như lời đề nghị của vị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh. Do Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm
nên không xem xét nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo V.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 345; điểm c khoản 1 Điều 358 của Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015,
Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 538/2021/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm
2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết theo thủ tục chung
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo Lâm Thanh V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TC; (1) - TAND cấp cao tại Tp. HCM (1) - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND thành phố Thủ Đức; (2) - P.PC 53 - CATP; (1) - Bị cáo; (1) - THADS thành phố Thủ Đức; (1) - TAND thành phố Thủ Đức; (2) - Công an thành phố Thủ Đức; (1) - Sở Tư pháp; (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (21) (4) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |