- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2022/HNGĐ-ST Ngày: 09-12-2022 V/v: “Ly hôn giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Hải Anh;
- Bà Đặng Thị Thu Hương;
Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nguyệt – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm C khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 196/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1998 (vắng mặt);
Nơi đăng ký HKTT: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Nơi ở: Thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định.
Bị đơn: Anh Lưu Bá C, sinh năm 1994 (vắng mặt);
Địa chỉ: Xóm Hoà Thịnh, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2022 được bổ sung tại bản tự khai ngày 27/10/2022, nguyên đơn chị Phạm Thị Thu H trình bày: Chị và anh Lưu Bá C tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào ngày 09 tháng 02 năm 2018. Quá trình chung sống, vợ chồng không hạnh phúc do bất đồng quan điểm, tính cách, mặt khác anh C có sử dụng ma túy, chị và gia đình đã giúp anh C thực hiện cai nghiện tự nguyện tại trung tâm cai nghiện nhưng không thành nên từ cuối năm 2018 đến nay chị và anh C ly thân, không quan tâm nhau, không tìm nhau đoàn tụ lại. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh Lưu Bá C.
Về con chung: Chị và anh Lưu Bá C có một con chung là Lưu Gia B sinh ngày 08/12/2018 đang ở với chị. Khi ly hôn chị đề nghị được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án đối với ông Lưu Xuân Nghị - bố của anh Lưu Bá C cho thấy: Chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C có quá trình kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và hiện trạng con chung đúng như chị H đã trình bày. Do anh C đi làm ăn nhưng thường xuyên đi về gia đình ông nên ông nhận cam kết giao lại tận tay anh C các văn bản tố tụng của Tòa án.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà nguyên đơn vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56; 81; 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/NQ-UBNVQH/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C. Về con chung: Giao chị Phạm Thị Thu H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Lưu Gia B sinh ngày 08/12/2018, chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị Thu H về việc không yêu cầu anh Lưu Bá C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Về án phí, chị Phạm Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Phạm Thị Thu H có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh Lưu Bá C được Toà án triệu tập tham gia phiên toà hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định vào tháng 02 năm 2018 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống: Chị Phạm Thị H và anh Lưu Bá C do bất đồng quan điểm, tính cách và do anh C có thời gian sử dụng ma túy dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt. Do mâu thuẫn căng thẳng, vợ chồng ly thân từ cuối năm 2018 đến nay không có biện pháp hàn gắn, đoàn tụ.
Xét thấy cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C với mâu thuẫn trầm trọng, kéo dài, nếu có duy trì thì mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn anh Lưu Bá C của chị Phạm Thị Thu H là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Căn cứ vào nguyện vọng của các bên, hiện trạng con chung, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh của các bên nên giao cho chị Phạm Thị Thu H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lưu Gia B, sinh ngày 08/12/2018; chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị Thu H về việc không yêu cầu anh Lưu Bá C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Anh Lưu Bá C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản: Chị Phạm Thị Thu H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Nếu sau này chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C.
2. Về nuôi con chung chưa thành niên: Giao chị Phạm Thị Thu H tiếp tục trực tiếp nuôi con chung Lưu Gia B, sinh ngày 08/12/2018. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Phạm Thị Thu H về việc không yêu cầu anh Lưu Bá C phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị. Anh Lưu Bá C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N theo biên lai thu số 0004792 ngày 27/10/2022.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thu H và anh Lưu Bá C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Nơi nhận:
| - Đương sự: 02 bản; - VKSND Huyện N: 02 bản; - Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định: 01 bản; - UBND xã N: 01 bản; - Chi cục THADS Huyện N: 01 bản; - Lưu hồ sơ vụ án: 01 bản; - Lưu V.P: 01 bản. | Nơi nhận: THẨM PHÁN - Đương sự: 02 bản; CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - VKSND Huyện N: 02 bản; - Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định: 01 bản; - UBND xã B: 01 bản; (Đã ký) - Chi cục THADS Huyện N: 01 bản; - Lưu hồ sơ vụ án: 01 bản; - Lưu V.P: 01 bản. Bùi Xuân Thọ |