vanban.org

Bản án 110/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Huỳnh Trọng P.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Trọng T - sinh ngày 07/6/2013 cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh P do chị K không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị K - Huỳnh Trọng P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Huỳnh Trọng P.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30 tháng 9 năm 2022
V/v xin ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Văn Đông.

2. Bà Trần Thúy Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Kim Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số 176/2022/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2022/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K - sinh năm: 1989. HKTT: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ hiện nay: Ấp 2, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Trọng P - sinh năm: 1980. Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

(Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị K trình bày:

Chị và anh Huỳnh Trọng P tự nguyện đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 13/4/2018. Cuộc sống vợ chồng chị đã không hạnh phúc ngay từ những ngày đầu chung sống do anh P là người không chung thuỷ, thường có mối quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Khi chị góp ý xây dựng thì bị anh P xúc phạm danh dự và đánh chị. Từ ngày 26/01/2020 đến nay, chị và anh P đã tự sống ly thân nhau, không ai quan tâm đến ai. Do vợ chồng chị đã không còn chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn với anh Huỳnh Trọng P.

Chị và anh P có 01 con chung tên là Huỳnh Trọng T - sinh ngày 07/6/2013 hiện đang do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.

Vợ chồng chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn anh Huỳnh Trọng P:

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ đến làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh P vắng mặt, không nêu ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đều đã thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên không kiến nghị gì.

Về đường lối xử lý vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh P. Chị K đang nuôi con, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên đề nghị Tòa án giao các con cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng. Chị K không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung nên đề nghị Tòa án không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Nơi cư trú của bị đơn anh Huỳnh Trọng P là Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (BL 07) nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Chị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh P, yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu chia tài sản chung nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt các đương sự: Chị K có đơn xin xét xử vắng mặt (BL 26); anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để xét xử đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị K, anh P tự nguyện đăng ký kết hôn; hôn nhân không vi phạm điều cấm nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Qua xác minh tại địa phương thể hiện: Từ năm 2016 đến nay, cuộc sống vợ chồng giữa chị K với anh P không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K đối với anh P.

Về quan hệ con chung:

Cháu Huỳnh Trọng T - sinh ngày 07/6/2013 hiện do chị K nuôi dưỡng. Qua kết quả xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ ở địa phương thể hiện chị K đã nuôi dưỡng con chung chu đáo, phát triển bình thường (BL 28). Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh P do chị K không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị K phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 68, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117, 118, 131 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Huỳnh Trọng P.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Trọng T - sinh ngày 07/6/2013 cho chị K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh P do chị K không yêu cầu.

Anh P được đến thăm và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản; Các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, quyền yêu cầu hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ: Chị K phải chịu. Chị K đã nộp tạm ứng 300.000đ (theo biên lai số 0003661 ngày 06/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán) được chuyển thu án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ