- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức V phạm tội “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? 1. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 18/2021/HS-ST, ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân thị xã TB, tỉnh Tây Ninh và đình chỉ vụ án.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 110/ 2021/ HSPT Ngày: 06-7-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thinh
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Tâm
Bà Lê Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2021/TLPT-HS, ngày 10 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Đức V; do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 18/2021/HS-ST, ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã TB, tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức V, sinh năm: 1993, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố PH, phường GB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn T và bà Nguyễn Thị R; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/01/2021 cho đến nay (có mặt).
- Bị hại: bà Lê Thị K, sinh năm 1967; địa chỉ: khu phố PH, phường GB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đức V và bà Lê Thị K nhà ở cạnh nhau tại khu phố PH, phường GB, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh. Vào khoảng 14 giờ ngày 16/10/2020, sau khi uống rượu cùng với bạn, V nhớ lại việc trước đó bà K chửi mấy con gà phá đọt thanh long của nhà bà nhưng V cho rằng bà K chửi gia đình V nên V cầm cây rựa có cán bằng gỗ dài 43 cm, lưỡi bằng kim loại dài 28 cm đi tìm bà K để gây thương tích. Khi đến nhà bà K, Việt cầm cây rựa chém vào đầu con chó của bà K hai ba cái và tiếp tục vào nhà tìm bà K. Khi đến khu vực nhà vệ sinh thì gặp bà K, V đứng đối diện với bà K, cầm cây rựa chém ngang 01 cái từ phải qua trái vào người bà K; bà K giơ hai tay lên đỡ làm trúng vào ngón tay (III) và ngón tay (IV) của bàn tay trái gây thương tích. Sau đó, V bỏ về nhà. Bà K được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế thị xã TB đến ngày 17/10/2020 thì xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 189/2020/TgT ngày 23/11/2020 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh tây Ninh, kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lê Thị K do thương tích gây nên hiện tại là 03%.
Ngày 11/12/2020, bà Lê Thị K làm đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Đức V.
Tại bản án sơ thẩm số 18/2021/HS-ST, ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân thị xã TB, tỉnh Tây Ninh đã áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 14/4/2021 bị cáo Nguyễn Đức V kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được giảm số tiền bồi thường.
Ngày 27/6/2021 bà Lê Thị K là bị hại trong vụ án, đã làm đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo Nguyễn Đức V; có xác nhận của địa phương.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; xác định đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình bị cáo có qua xin lỗi bị hại, có sự chứng kiến của địa phương và phía bà K đã làm đơn rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm vụ án: Bị hại là bà Lê Thị K tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 155; khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy lỗi lầm của mình, xin được xem xét chấp nhận việc bị hại rút yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, tuyên án ngày 26/3/2021 và bị cáo đã làm đơn kháng cáo ngày 14/4/2021, kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Chiều ngày 16/10/2020, sau khi uống rượu về, bị cáo V nhớ lại việc bà K chửi gia đình mình nên đã cầm rựa sang nhà bà K chém bà K gây thương tích 03% và bị hại có yêu cầu khởi tố vụ án. Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo các điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, ngày 27/6/2021 bà Lê Thị K là bị hại trong vụ án đã làm đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo V, đơn có sự chứng kiến và xác nhận của địa phương. Mặt khác, tại cấp phúc thẩm, bị cáo V cũng đã tự nguyện bồi thường xong cho bị hại; bị cáo cũng qua xin lỗi bị hại nên bà K đã làm đơn rút yêu cầu khởi tố xứ lý hình sự đối với bị cáo V.
Xét thấy, bà K là người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và đã rút yêu cầu, việc rút yêu cầu là tự nguyện, không bị ép buộc. Do đó, có căn cứ chấp nhận việc rút yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can của bà K và bà K không được quyền yêu cầu khởi tố lại vụ án.
Do bị hại rút yêu cầu nên cần hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Việc hủy án sơ thẩm không phải lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.
Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo V đã nộp 21.580.000 (hai mươi mốt triệu năm trăm tám chục ngàn) đồng theo biên lai thu số 0000236, ngày 01/6/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh để khắc phục hậu quả. Bị hại là bà Lê Thị K được nhận số tiền trên.
Về xử lý vật chứng: cấp sơ thẩm tịch thu tiêu hủy các vật chứng là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; bà K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo, bị hại không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 155; điểm d khoản 1 khoản 2 Điều 355, Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
1.1. Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 18/2021/HS-ST, ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân thị xã TB, tỉnh Tây Ninh và đình chỉ vụ án.
1.2. Bà Lê Thị K được nhận số tiền 21.580.000 (hai mươi mốt triệu năm trăm tám chục ngàn) đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh (tiền do bị cáo Nguyễn Đức V nộp theo biên lai thu số 0000236, ngày 01/6/2021).
2. Về án phí: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
- Bị cáo không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) cây rựa có cán bằng gỗ dài 43 cm, đường kính 04 cm, lưỡi bằng kim loại dài 28 cm, nơi rộng nhất trên lưỡi là 3,5 cm, trọng lượng 800 gram;
- 01 (một) quần kaki lửng màu vàng, viền thắt lưng sọc màu xanh dương – trắng – đỏ.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao HCM; - VKSND Cấp cao HCM; - Vụ Giám đốc kiểm tra (Vụ 1); - VKSND tỉnh TN; - Công an TX TB; - Phòng PV 06; - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh; - TAND TX TB; - CCTHADS TX TB; - VKSND TX TB; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu THS; hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đỗ Văn Thinh |