vanban.org

Bản án 110/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thế Đ "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 110/2021/HS-ST
Ngày: 28-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đ ng Th Di u Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Ngọc Nguyên.

Ông Đ ng Hữu Tấn.

- Th

phi n t a: Ông Trần Ngọc Ký - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện iểm sát nhân dân thành phố Long Xuy n, tỉnh An Giang tham gia phi n t a: Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2021/HS-ST ngày 03 tháng 6 năm 2021 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số: 61/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2021 đối với b cáo:

Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1989 tại huy n Chợ Mới, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Khóm Đ, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghi p: Không; Quốc t ch: Vi t Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông Nguyễn Thế D, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Th B, sinh năm 1959; Chung sống như vợ chồng với Lê Thanh H, sinh năm 1989; Có 02 người con lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2016.

Ngày 29/01/2021, b Tòa án nhân dân huy n Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 02 năm 03 tháng tù.

- Tiền án: Ngày 21 tháng 11 năm 2018, b Tòa án nhân dân huy n Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 23 tháng 8 năm 2019 chấp hành xong hình phạt tù.

- Tiền sự: Không.

- B cáo chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Đ nh Thành (Bộ Công an) từ ngày 08/9/2020 cho đến nay.

- B cáo có m t tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn Mười B, sinh năm 1972. (Vắng m t). Nơi cư trú: tổ 5, ấp T, th trấn S, huy n T, tỉnh An Giang. 2. Ông Lê Quốc A, sinh năm 1970. (Vắng m t). Nơi cư trú: khóm H, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang. 3. Ông Trương Vĩnh H, sinh năm 1979. (Vắng m t). Nơi cư trú: khóm K, phường H, thành phố X, tỉnh An Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1960. (Vắng m t). Nơi cư trú: tổ 3, ấp M, xã H, thành phố X, tỉnh An Giang. 2. Ông Nguyễn Văn Mười M, sinh năm 1974. (Vắng m t). Nơi cư trú: số 619B, khóm Đ, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng: 1. Ông Lý Văn B. (Vắng m t). 2. Ông Lý Minh T. (Vắng m t).

NỘI DUNG V ÁN

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án Đ tóm tắt như sau: Nguyễn Thế Đ đã b kết án về tội trộm cắp tài sản nhưng chưa Đ xóa án tích. Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 04 tháng 5 năm 2020, Đ điều khiển xe mô tô biển số 67H2-4563 đến khu vực phường M, thành phố X tìm tài sản lấy trộm. Khi đi qua công trình xây dựng nhà của anh Đỗ Văn T ở khóm K, phường H, Đ thấy 01 mô tơ đi n trong máy trộn hồ của anh Nguyễn Văn Mười B để ở lề đường không người trông giữ nên Đ dùng cờ lê mang theo gỡ lấy đem đến khu vực chợ Mỹ Long, thành phố Long Xuyên bán cho người không rõ họ tên, đ a chỉ Đ 400.000 đồng. Đến ngày 08 tháng 5 năm 2020, Công an phường Mỹ Hòa mời Đ làm vi c thì Đ thừa nhận lấy trộm mô tơ đi n của anh Mười B nên lập biên bản vi phạm hành chính số 0164139/BB-VPHC và đề ngh Ủy ban nhân dân phường H ra Quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ. Cùng ngày Ủy ban nhân dân phường Mỹ H ra Quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính số 0045338/QĐ-XPHC phạt Đ 1.500.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 10 tháng 5 năm 2020, Đ điều khiển xe mô tô biển số 67B1-251.10 đến khu vực hẻm 12, khóm Đông An 5, phường M, thành phố X lấy trộm 20kg sắt tai dê, 10kg sắt buộc của anh Trương Vĩnh H; 02 cây kéo sắt, 02 cây nỏ bẻ sắt, 01 cây xà beng, 14m dây đi n, 01 ổ cắm đi n của anh Lê Quốc A tại công trình xây dựng trụ sở Ngân hàng Quốc tế VIB thì b anh Lý Minh T và ông Lý Văn B phát hi n bắt giữ giao cho Công an phường M lập biên bản tiếp nhận người b bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Ngày 09 tháng 3 năm 2021, Chủ t ch Ủy ban nhân dân phường Mỹ Hòa ra Quyết đ nh hủy bỏ quyết đ nh xử phạt vi phạm hành chính số 0045338/QĐ-XPHC ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với Nguyễn Thế Đ và chuyển hồ sơ vụ vi phạm hành chính có dấu hi u tội phạm đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên để truy cứu trách nhi m hình sự.

Căn cứ các kết luận về vi c xác đ nh giá tr tài sản số 17, 18 ngày 17 tháng 02 năm 2021, ngày 11 tháng 5 năm 2021 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Long Xuyên xác đ nh:

- 01 motor đi n, loại động cơ 01 pha, công suất 02Hp-1.5KW, tr giá 540.000 đồng.

- 20kg sắt tai dê, phi 6, kích thước 25cm x 15cm, tr giá 460.000 đồng.

- 10kg sắt buộc đen 01 li, tr giá 140.000 đồng.

- 01 cây kéo cắt sắt 36’’, dài 85cm, tr giá 180.000 đồng.

- 01 cây kéo cắt sắt 42”, dài 01m, tr giá 210.000 đồng.

- 01 cây nỏ bẻ sắt, dài 1,5m, tr giá 140.000 đồng.

- 01 cây nỏ bẻ sắt, dài 0,85m, tr giá 80.000 đồng.

- 01 cây xà beng sắt, dài 1,4m, tr giá 130.000 đồng.

- 01 sợi dây đi n, hi u Lucky Star 0.6/1.0Kv dài 14m, tr giá 42.000 đồng.

- 01 ổ cắm đi n nhựa, loại 03 lỗ, 7.000 đồng

Tổng tr giá tài sản là 1.389.000 đồng.

Phiếu trả lời xác minh phương ti n giao thông cơ giới đường bộ ngày 08 tháng 6 năm 2020 của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ Công an tỉnh An Giang xác đ nh: Xe mô tô biển số 67B1-351.10, số khung 1109476, số máy 109476 chủ xe là Nguyễn Văn A.

Ngày 28 tháng 4 năm 2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên ra thông báo tìm chủ xe mô tô biển số 67B1-351.10, số khung 1109476, số máy 109476 nhưng đến nay chưa tìm Đ.

Tại bản cáo trạng số 62/CT.VKS ngày 28 tháng 5 năm 2021, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố b cáo Nguyễn Thế Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy đ nh tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã Đ sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với b cáo Nguyễn Thế Đ. Đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt b cáo Nguyễn Thế Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhi m dân sự: ông Nguyễn Văn Mười B không yêu cầu bồi thường thi t hại, ông Lê Quốc A, ông Trương Vĩnh H đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường thi t hại. Do đó, không đề ngh xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: đề ngh áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, t ch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 67B1 – 351.10, 01 xe mô tô biển số 67H2 – 4563.

Tại phiên tòa, b cáo khai nhận đã thực hi n hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại di n Vi n kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra, b hại và người làm chứng trình bày: Ông Mười B, ông Quốc A, ông H trình bày tài sản b mất trộm như nội dung vụ án đã nêu và nhận lại Đ tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Ông T, ông B phát hi n b cáo lấy trộm tài sản tại công trình xây dựng trụ sở Ngân hàng Quốc tế VIB nên bắt giữ b cáo như nội dung vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Trước đây ông M có mua xe mô tô biển số 67H2 – 4563 để sử dụng. Sau đó bán lại xe này cho b cáo với giá 700.000 đồng. Ông A không làm thủ tục đăng ký xe mô tô biển số 67B1 – 351.10 và cũng không phải là chủ sở hữu xe mô tô này.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã Đ tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau: [1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Vi n kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp. M c dù đã Đ Tòa án tống đạt hợp l giấy tri u tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng vẫn vắng m t. Tuy nhiên, những người vắng m t đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên vi c vắng m t của họ không gây cản trở cho vi c xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng m t theo quy đ nh của pháp luật. [2]. Tại phiên tòa, b cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà đại di n Vi n kiểm sát đã công bố. Lời khai của b cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của b hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản khám nghi m hi n trường và các tài li u chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những căn cứ trên, đã có đủ cơ sở xác đ nh, b cáo đã b kết án về tội trộm cắp tài sản chưa Đ xóa án tích, đến ngày 04/5/2020 thực hi n hành vi lén lút lấy trộm mô tơ tr giá 540.000 đồng của ông Nguyễn Văn Mười B và ngày 10/5/2020 thực hi n hành vi lấy trộm sắt, kéo cắt sắt, nỏ bẻ sắt, xà beng, dây di n, ổ cắm đi n tr giá 1.389.000 của ông Lê Quốc A, Trương Vĩnh H, tổng giá tr tài sản chiếm đoạt 1.929.000 đồng. Do đó, hành vi của b cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố b cáo về tội trộm cắp tài sản là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản Đ pháp luật ghi nhận và bảo v , mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác đều b xử lý nghiêm khắc. Xét thấy b cáo là người có nhân thân xấu, năm 2018, b cáo b Tòa án nhân dân huy n Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, lẽ ra sau khi chấp hành xong hình phạt, b cáo phải nhận thức Đ hành vi sai trái của bản thân mà cố gắng rèn luy n phẩm chất, đạo đức và tích cực lao động để tạo thu nhập nuôi sống bản thân, trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội nhưng ngược lại vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc, trong thời gian chưa Đ xóa án tích b cáo liên tục thực hi n hành vi lấy trộm mô tơ tr giá 540.000 đồng của ông Nguyễn Văn Mười B vào ngày 04/5/2020 và ngày 10/5/2020 thực hi n hành vi lấy trộm sắt, kéo cắt sắt, nỏ bẻ sắt, xà beng, dây di n, ổ cắm đi n tr giá 1.389.000 của ông Lê Quốc A, ông Trương Vĩnh H với tổng giá tr tài sản chiếm đoạt 1.929.000 đồng, sau đó mang đi bán lấy tiền tiêu xài. Điều này cho thấy ý thức xem thường pháp luật và cố ý thực hi n hành vi phạm tội của b cáo.

Hành vi phạm tội của b cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại đ a phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của b cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3]. Về tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhi m hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, b cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thi t hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự Đ quy đ nh tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử có xem xét cho b cáo khi quyết đ nh hình phạt.

B cáo không có tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Do b cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn đ nh nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với b cáo.

[5]. Về trách nhi m dân sự: B hại ông Nguyễn Văn Mười B không yêu cầu bồi thường thi t hại, b hại ông Lê Quốc A, Trương Vĩnh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đ t ra xem xét, giải quyết.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô biển số 67H2 – 4563 là của b cáo mua của ông Nguyễn Văn Mười M nhưng sử dụng xe trên vào vi c thực hi n hành vi phạm tội nên cần t ch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với xe mô tô biển số 67B1 – 351.10, b cáo khai mượn của T ở xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên. Qua kết quả xác minh người đứng tên chủ sở hữu xe mô tô trên là ông Nguyễn Văn A. Tuy nhiên, ông A khai không phải là người làm thủ tục đăng ký xe mô tô biển số 67B1 – 351.10 và cũng không phải chủ sở hữu xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Long Xuyên đã ban hành Thông báo số 310/TB-CQCSĐT-ĐTTH ngày 28/4/2021 về vi c truy tìm chủ sở hữu phương ti n nhưng không có ai là chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp đến nhận lại xe. Như vậy, tại thời điểm thực hi n hành vi phạm tội b cáo là người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với xe mô tô biển số 67B1 – 351.10 đồng thời sử dụng xe mô tô trên để thực hi n hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử quyết đ nh t ch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với xe mô tô biển số 67B1 – 351.10 là phù hợp quy đ nh pháp luật.

[7]. B cáo phải ch u án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH

Tuyên bố b cáo Nguyễn Thế Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Xử phạt: B cáo Nguyễn Thế Đ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/9/2020. Về xử lý vật chứng: T ch thu sung vào ngân sách nhà nước:

- 01 xe mô tô biển số 67B1 – 351.10, số khung RNRWCH1UM91109476, số máy RNRHA152PMH109476.

- 01 xe mô tô biển số 67H2 – 4563, số khung VFCPCG0A3YF008363, số máy 1P50FMG-310048958. Các vật chứng trên do Chi cục thi hành án thành phố Long Xuyên quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10 tháng 6 năm 2021. Buộc b cáo phải ch u 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. B hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đ quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận Đ bản án ho c bản án Đ niêm yết. B cáo Đ quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án, quyết đ nh Đ thi hành theo quy đ nh tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người Đ thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án Đ thực hi n theo quy đ nh tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ