vanban.org

Bản án 110/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 15/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2021/HSST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H.

Áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2021/HSST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2021/HS-PT
Ngày: 15/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Thu Hương

Bà Đinh Thị Kiều Lương

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Huy Hùng – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Xuân Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 91/2021/TLPT-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Anh H, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 45/2021/HSST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Anh H, sinh năm 1980 tại Đồng Nai.

Hộ khẩu thường trú: ấp 1, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: tổ 17, khu phố 5A, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: làm thuê. Trình độ học vấn: 03/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Quang A (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1948. Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 5. Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1980 và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 13/3/1999, bị Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 tháng 22 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 19/10/1999, bị Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai, xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”.

Hiện bị cáo đang được tại ngoại (có mặt).

(Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 20/8/2020, Nguyễn Anh H điều khiển xe mô tô biển số 60B5-551.15 từ phòng trọ của mình đến trước nhà số 171, khu phố 5A, phường B, thành phố H, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện thấy 01 xe ô tô biển số 51C-180.95, loại hút hầm cầu do anh Nguyễn Hữu L quản lý, sử dụng đang đậu bên đường không có người trông coi, cửa xe phía bên phụ xe khép hờ, không khoá nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, H đi đến mở cửa xe bên phụ xe, thấy trên ghế bên phụ xe có 01 máy dùng để thông ống cống vệ sinh kèm theo 01 cuộn dây lò xo và 01 cuộn dây điện nên H trộm cắp số tài sản trên rồi mang về phòng trọ cất giấu. Khi sự việc xảy ra, anh Luyện đến công an phường B trình báo. Qua kiểm tra camera an ninh, đến khoảng 13 giờ ngày 21/8/2020, Công an Phường B mời H lên làm việc, tại đây H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, Công an phường B chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H điều tra, xử lý.

Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 chiếc xe môtô hiệu Honda Waves màu xanh – đen – bạc, biển số 60B5-551.15 là phương tiện H sử dụng vào việc phạm tội và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 60B5-551.15 thuộc sở hữu của vợ chồng Nguyễn Anh H.

- 01 máy dùng để thông ống cống vệ sinh kèm theo 01 cuộc dây lò xo dài 30m và 01 cuộn dây điện dài 40m thuộc sở hửu của anh Đỗ Như H do anh Nguyễn Hữu L quản lý, sử dụng. Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại cho anh H.

- 01 USB ghi lại hành vi phạm tội của Nguyễn Anh H, lưu hồ sơ vụ án.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 415/TCKH-HĐĐG ngày 18 tháng 9 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: “01 (một) máy dùng để thông ống cống vệ sinh kèm theo 01 cuộn dây lò xo dài 30m và 01 (một) đoạn dây điện dài 40m có tổng giá trị định giá là: 2.904.272 đồng”.

Về dân sự: Anh Đỗ Như H và anh Nguyễn Hữu L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2021/HSST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H đã áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 26 tháng 01 năm 2021, bị cáo Nguyễn Anh H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án: cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật. Hội đồng xét xử sơ thẩm cũng đã cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã tuyên xử bị cáo 06 tháng tù giam là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ nhưng tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp được tình tiết gì đặc biệt nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Cụ thể: vào khoảng 15 giờ 50 phút ngày 20/8/2020, bị cáo Nguyễn Anh H đã có hành vi trộm cắp 01 máy dùng để thông ống cống vệ sinh kèm theo 01 cuộn dây lò xo và 01 cuộn dây điện có tổng giá trị là: 2.904.272 đồng rồi mang về phòng trọ cất giấu. Qua kiểm tra camera an ninh, Công an phường B đã mời H lên làm việc và H cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã tuyên xử bị cáo 06 tháng tù giam là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ nhưng tại cấp phúc thẩm không cung cấp được tình tiết gì mới. Xét nhân thân bị cáo đã từng bị xử phạt tù 2 lần về tội trộm cắp tài sản, nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Nếu cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ sẽ không đảm bảo tính phòng ngừa tội phạm nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSPT.

Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 45/2021/HSST ngày 21/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H.

2. Áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3. Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm

4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ