vanban.org

Bản án 110/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ Tr.

Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Lê Đăng Kh sinh ngày 03/8/2008, Nguyễn Lê Mỹ Tr sinh ngày 05/9/2012 và Nguyễn Lê Đăng Kh sinh ngày 09/3/2015 cho chị Tr được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các cháu Nguyễn Lê Đăng Kh, Nguyễn Lê Mỹ Tr, …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Lê Thị Mỹ Tr ly hôn anh Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 110/2021/HNGĐ-ST
Ngày 16 - 7 - 2021
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Tấn Lộc

Ông Lý Quốc Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2021/QĐXXST–HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ Tr, sinh năm 1980; Địa chỉ: Số 05/02 Khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh B. (vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp 5, xã Tr, huyện T, tỉnh C. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 05/3/2021 và đơn yêu cầu ngày 27/4/2021, nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ Tr trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ Tr và anh Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, thị xã D, tỉnh B. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống thường xuyên cải vả và anh B bỏ nhà đi từ năm 2019 cho đến nay. Chị Tr xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Tr được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị Tr xác định chị và anh B có 03 người con tên Nguyễn Lê Đăng Kh sinh ngày 03/8/2008, Nguyễn Lê Mỹ Tr sinh ngày 05/9/2012 và Nguyễn

1

Lê Đăng Kh sinh ngày 09/3/2015, hiện các cháu do chị Tr đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu Kh, Tr, Kh; yêu cầu anh B cấp dưỡng cho các con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Chị Tr xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ: Chị Tr xác định trong thời gian chung sống vợ chồng không có nợ ai và cũng không ai nợ lại vợ chồng, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho anh Nguyễn Văn B, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng anh B không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr, không tham gia hòa giải và xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Thị Mỹ Tr có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Tr, anh B.

[2] Về hôn nhân: Chị Tr với anh B tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2008. Tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thì mối quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Mỹ Tr với anh Nguyễn Văn B được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo chị Tr xác định trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, chị Tr với anh B thường xuyên cải vã và anh B bỏ nhà đi từ năm 2019 cho đến nay, hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Tr được ly hôn với anh B; đối với anh Nguyễn Văn B, mặc dù đã biết được nội dung khởi kiện xin ly hôn của chị Tr nhưng anh B không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Tr, điều này cho thấy anh B đã không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân này nữa. Từ đó cho thấy hôn nhân của chị Tr và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của chị Tr cho chị Tr được ly hôn với anh B là phù hợp.

[3] Về con chung: Chị Tr và anh B có 03 người con tên Nguyễn Lê Đăng Kh sinh ngày 03/8/2008, Nguyễn Lê Mỹ Tr sinh ngày 05/9/2012 và Nguyễn Lê Đăng Kh sinh ngày 09/3/2015. Khi ly hôn chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả ba cháu Kh, Tr và Kh và yêu cầu anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con theo quy định của pháp luật; đối với anh B không có ý kiến về việc nuôi con chung và cấp dưỡng cho con. Hội đồng xét xử xét thấy hiện các cháu Kh, Tr và Kh đang do chị Tr nuôi dưỡng, khi ly hôn chị Tr có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu Kh, Tr và Kh. Do đó, căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 giao ba cháu Kh, Tr và Kh cho chị Tr được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Xét yêu cầu cấp dưỡng cho con của chị Tr, thấy rằng: Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ

2

cấp dưỡng cho con, do vậy buộc anh B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cả ba cháu Kh, Tr và Kh, mỗi cháu mỗi tháng 745.000 đồng cho đến khi các cháu Kh, Tr và Kh đều tròn 18 tuổi; việc cấp dưỡng được thực hiện định kỳ hàng tháng, kể từ ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tr xác định vợ chồng không có tài sản chung, có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với anh B không có ý kiến gì về tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí: Chị Lê Thị Mỹ Tr phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; anh Nguyễn Văn B phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng cho con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81 và Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ Tr. Cho chị Lê Thị Mỹ Tr được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Lê Đăng Kh sinh ngày 03/8/2008, Nguyễn Lê Mỹ Tr sinh ngày 05/9/2012 và Nguyễn Lê Đăng Kh sinh ngày 09/3/2015 cho chị Tr được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Văn B có nghĩa vụ cấp dưỡng cho các cháu Nguyễn Lê Đăng Kh, Nguyễn Lê Mỹ Tr, và Nguyễn Lê Đăng Kh, mỗi cháu mỗi tháng 745.000 đồng (bảy trăm bốn mươi lăm nghìn đồng), việc cấp dưỡng thực hiện định kỳ hàng tháng, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/7/2021) cho đến khi các cháu Kh, Tr và Kh đều tròn 18 tuổi. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày chị Tr có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền được thi hành án nếu như anh B chưa thi hành xong số tiền phải thi hành án thì phải chịu thêm phần lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thi hành án.

3. Về án phí:

+ Chị Lê Thị Mỹ Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0014509 ngày 02/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình; chị Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3

+ Anh Nguyễn Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng); anh B chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Tr, anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ