- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp về quyền sử dụng đất và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Tòa quyết gì? Ch p nhận một phần yêu cầu kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn (cụ Hoàng Thị Mai H2) là bà Nguyễn Thị Kim H3, ông Nguyễn Văn H1; Hủy toàn bộ ản án d n sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nh n d n tỉnh V; giao hồ sơ vụ án ch…
- Căn cứ chính? Luật Tố tụng D n sự; Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 110/2021/DS-PT Ngày: 03/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Mai;
Các Thẩm phán:
Ông i Xu n Tr ng;
Ông V Minh Tu n.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: à Hoàng Thị Nhật Phương, Thư ký Toà án nh n d n c p cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: à Phan Diệu Nh n, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nh n d n c p cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án d n sự thụ lý số 362/2020/TLPT-DS ngày 08 tháng 12 năm 2020 về việc “Tranh ch p về quyền sử dụng đ t và hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t” do có kháng cáo của Người đại diện theo ủy quyền và Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn đối với ản án d n sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Toà án nh n d n tỉnh V.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8462/2021/QĐ-PT ngày 12 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
Đồng nguyên đơn:
1. Cụ Đặng Kim T, sinh năm 1940;
Địa chỉ: P, xã T1, huyện M, thành phố H (có mặt).
Ng i đ i di n theo ủy quy n của c T: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1980 (theo văn bản ủy quyền ngày 01/8/2016);
Địa chỉ: Xóm C, xã Đ, thành phố V1, tỉnh V (có mặt).
2. Cụ Hoàng Thị Mai H2, sinh năm 1925 (chết ngày 22/3/2018);
Địa chỉ: Tổ 4, phường D, thành phố V2, tỉnh P1;
Ng i kế thừa quy n, nghĩa v tố t ng của c H2: Bà Nguyễn Thị Kim H3, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Phố T2, phường T1, thành phố V2, tỉnh P1.
Ng i đ i di n theo ủy quy n của bà H3: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1980 (theo văn bản ủy quyền ngày 09/4/2018);
Địa chỉ: Xóm C, xã Đ, thành phố V1, tỉnh V (có mặt).
Đồng b đơn: Ông Đặng Kim V3, sinh năm 1957 và bà Lê Thị V4, sinh năm 1959 (có mặt);
C ng địa chỉ: Thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Cụ Văn Thị T3, sinh năm 1924 (chết ngày 16/12/2019);
Ng i kế thừa quy n, nghĩa v tố t ng của c T3:
- Ông Đặng Kim V3, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V (có mặt).
- Bà Đặng Thị C1, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn V6, xã V5, huyện V7, tỉnh V.
- Bà Đặng Thị H4, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn P2, xã Y1, huyện Y, tỉnh V.
2. Chị Đặng Thị Quỳnh H5, sinh năm 1979;
3. Anh Đặng Kim Quốc T4, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V.
Ng i đ i di n theo ủy quy n của chị H5, anh T4, bà C1, bà H4: Ông Đặng Kim V3, sinh năm 1957 (theo văn bản ủy quyền ngày 04/4/2017 và ngày 08/01/2020).
Địa chỉ: Thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V (có mặt).
4. Uỷ ban nh n d n huyện Y, tỉnh V;
Địa chỉ: Thị tr n Y, huyện Y, tỉnh V.
Ng i đ i di n theo pháp luật: Ông Nguyễn Xu n T5 - Chức vụ: Chủ tịch.
Ng i đ i di n theo ủy quy n: Ông Hà Thái D - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nh n d n huyện Y, tỉnh V (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Kim H3, ông Nguyễn Văn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi ki n và quá trình tố t ng t i Toà án, nguyên đơn là c Đặng Kim T, c Hoàng Thị Mai H2, ng i kế thừa quy n, nghĩa v tố t ng của c H2 là bà Nguyễn Thị Kim H3 và ng i đ i di n theo ủy quy n là ông Nguyễn Văn H1 trình bày:
Trong thời kỳ cải cách ruộng đ t năm 1955, cụ Đặng Kim T, cụ Hoàng Thị Mai H2 được Uỷ ban nh n d n (U ND) xã H6, huyện Y (nay là xã Y1, huyện Y) chia cho 384m2 đ t thổ cư trên đ t có 01 điện thờ nay vẫn còn. Cụ Hoàng Thị Mai H2 được chia 300m2 cụ H2 đã x y nhà 04 gian, loại nhà c p 4 (năm 2004 ông V3 đã phá), cụ Văn Thị T3 (mẹ ông V3) c ng được chia 120m2, trên đ t có 01 ngôi nhà c do cụ T3 làm. a thửa đ t này trước kia là của cụ Hoàng Trìu, cả 03 thửa đ t trên liền kề nhau tại xóm Đình, thôn D1, xã Y1.
Năm 1976 do nhà cụ T3 xập xệ nên cụ T đã cho cụ T3 sang ở nhờ tại gian buồng phía bắc của nhà cụ T, còn mẹ cụ T ở gian buồng phía nam, thỉnh thoảng cụ T, cụ H2 mới về thăm gia đình.
Năm 1992, mẹ cụ T qua đời, cụ H2 và cụ T đi công tác xa nên đã gửi toàn bộ tài sản nhà cửa cho gia đình cụ T3, cụ K (là bố mẹ ông V3) ở nhờ trông coi. Năm 1993, cụ K chết, tài sản nhà cửa vẫn còn nguyên vẹn nên cụ T và cụ H2 vẫn thường xuyên về nghỉ ngơi thăm nhà.
Năm 2004, lợi dụng cụ T, cụ Hương vắng nhà mẹ con cụ T3 đã phá nhà c của cụ T x y nhà mới trên diện tích đ t của cụ T, cụ H2 và x y tường rào bao quanh cả 03 thửa đ t. Năm 2010, khi cụ T biết sự việc đã yêu cầu h p gia đình để ph n chia lại đ t. Sau đó, cụ T ra UBND xã Y1 hỏi thì được biết ông V3 đã kê khai toàn bộ diện tích đ t và được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t từ năm 2001, đứng tên ông Đặng Kim V3 với diện tích 573m2. Cụ T và cụ H2 đã yêu cầu ông V3 viết đơn trả lại đ t và ngày 28/12/2011 ông V3 viết đơn trả lại diện tích đ t trên cho cụ T, cụ H2, nhưng khi cụ T chuyển lên U ND xã Y1 làm thủ tục sang tên thì bị cán bộ địa chính g y khó khăn và hướng dẫn cụ T, cụ H2 làm lại đơn yêu cầu ông V3 ký lại nhưng ông V3 không ký.
Đến ngày 11/7/2015, cụ T, cụ H2 c ng gia đình ông V3 h p tại gia đình ông V3 và có chứng kiến của Trưởng thôn và cán bộ tư pháp xã, ông V3 đã nh t trí trả lại diện tích đ t trên. Tuy nhiên, sau khi làm biên bản, cụ T đề nghị ông V3 ra U ND xã và ra Phòng Công chứng làm các thủ tục để chuyển tên nhưng ông V3 né tránh không chịu làm.
Nay cụ T, cụ H2 khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K321391 diện tích 573m2 đứng tên hộ ông Đặng Kim V3, công nhận quyền sử dụng đ t cho ông T, cụ H2 đối với thửa đ t số 205 tờ bản đồ số 3 diện tích 573m2 tại thôn D1, xã Y1, huyện Y. uộc vợ chồng ông Đặng Kim V3 phải tháo dỡ các công trình trên đ t trả lại nguyên trạng đ t cho ông T, cụ H2.
Bị đơn ông Đặng Kim V3 và bà Lê Thị V4 trình bày:
Ông nội ông V3 là cố Đặng Kim L3 (chết năm 1954) có vợ cả là cố Nguyễn Thị C2 (chết năm 1981), vợ hai là cố Lê Thị C3 (chết năm 1984). Hai cố có 09 người con là Hoàng Thị Mai H2 (sinh năm 1925), Đặng Thị M1 (chết năm 2008), Đặng Kim K (chết năm 1993), Đặng Thị L5 (sinh năm 1936), Đặng Thị K1 (sinh năm 1938) Đặng Kim T (sinh năm 1940), Đặng Thị Đ1 (sinh năm 1949) và một con nuôi là Đặng Thị 1 (sinh năm 1936).
Về nguồn gốc thửa đ t nguyên đơn cụ T, cụ Hương tranh ch p là của cố L3, cố C2, cố C3 và các con sinh sống có số thửa 101, diện tích 785m2 tờ bản đồ số 9 thôn D1, xã Y1, sau này các cố cho bố ông là Đặng Kim K từ những năm 1978.
Quá trình sử dụng đ t: Năm 1983, cụ K đã chuyển nhượng cho cụ Đặng Kim L3 240m2, sau này bố ông đã cho ông toàn bộ diện tích đ t còn lại. Năm 1988, ông mua lại diện tích 240m2 đ t mà bố ông đã chuyển nhượng cho cụ L3 nhưng chỉ viết tay với nhau. Nay chưa sang tên nên gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t vẫn mang tên cụ L3. Năm 1993, cụ K chết. Năm 2001, ông V3 đã kê khai toàn bộ diện tích đ t trên với chính quyền địa phương và ngày 30/9/2001 gia đình ông được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đứng tên chủ hộ là ông Đặng Kim V3 với diện tích là 573m2, thửa số 205, tờ bản đồ số 03, thôn D1, xã Y1, huyện Y và hiện tại thửa đ t trên do mẹ ông là cụ T3 và gia đình ông vẫn đang quản lý.
Ông, bà được biết trước đó cụ K có mua lại diện tích đ t trên của các thành viên trong gia đình. Thời điểm cố L3, cố C2, cố C3 còn sống có chia cho cụ T, cụ H2 một phần diện tích đ t. Quá trình sử dụng đ t, cụ T, cụ H2 không có nhu cầu ở trên đ t nên bố ông đã mua lại của cụ T, cụ H2 bằng 2,5 vạn gạch chín và 03 chỉ vàng từ năm 1981, khi mua lại trên đ t vẫn còn 05 gian nhà c p 4 và năm 2003 ông bà có tu sửa lại điện thờ không x y mới, còn 04 gian nhà của cụ H2 đã c nát nên ông bà đã phá dỡ năm 2003.
Về việc ông Đặng Kim V3 ký tại Đơn xin chuyển nhượng đ t cho cụ T ngày 28/12/2011 là do năm đó con ông, bà là Đặng Kim Quốc T4 ham cờ bạc đã vay nợ và lừa đảo r t nhiều người, lo sợ bị d n xã hội đen đến xiết nợ đối với diện tích đ t của ông cha để lại nên ông đã bàn bạc với cụ T tạm thời chuyển nhượng diện tích đ t trên cho cụ T giữ hộ để khỏi bị xiết nợ bằng đ t nên ông đã viết gi y chuyển nhượng đ t trên và đưa cho cụ T cầm giữ toàn bộ gi y tờ đ t. Sau một thời gian ông và cụ T có m u thuẫn gia đình nên cụ T có ý định cướp thửa đ t trên của ông, bà bằng việc tố cáo ông V3 đến các cơ quan của huyện Y và Tỉnh ủy V về việc ông V3 là đảng viên và lãnh đạo trường c p 2 Y1 vi phạm đạo đức nghề nghịệp và vi phạm tư cách đảng viên, cướp đ t của cụ T và cụ H2. Ông V3 bị các cơ quan huyện Y, tỉnh V liên tục g i lên làm việc. Vì sợ ảnh hưởng đến công tác và trước sự d a nạt của cụ T nên ông V3 đã ký vào iên bản h p gia đình ngày 11/7/2015 do cụ T tự soạn, nội dung của biên bản trên ông V3 không rõ chi tiết mà chỉ biết là để chuyển trả đ t cho cụ T, cụ H2. Việc ông V3 ký vào biên bản trên là do sức ép của cụ T, vì cụ T có nói nếu không ký trả lại đ t thì cụ không rút đơn tố cáo ông V3 đến cơ quan c p trên của ông nên ông V3 đành phải ký.
Nay ông V3, bà Vận không nh t trí trả lại đ t trên cho cụ T, cụ H2 vì diện tích đ t này là của cụ K cho gia đình ông nên đ y là tài sản chung của vợ chồng ông cùng mẹ ông là cụ T3 và các con. Việc ký biên bản h p gia đình trên c ng không có chữ ký của cụ T3 và các con c ng như việc ký vào Biên bản h p gia đình trên là do ông bị cụ T ép buộc. Ông V3, bà Vận đề nghị Tòa án không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của cụ T, cụ H2 và đồng thời, ông V3 yêu cầu cụ T phải trả vợ chồng ông, bà gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t mà ông V3 đã đưa cụ T cầm giữ hộ.
Ng i có quy n lợi và nghĩa v liên quan là c Văn Thị T3 do ông Đặng Kim V3 là ng i đ i di n theo ủy quy n trình bày:
Về quan hệ gia đình, nguồn gốc thửa đ t và quá trình sử dụng đ t như ông V3, bà Vâ đã trình bày, đề nghị Tòa án không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của cụ T, cụ H2.
Ng i kế thừa quy n, nghĩa v của c T3 gồm ông Đặng Kim V3, bà Đặng Thị C1 và Đặng Thị H4 (bà C1, bà H4 ủy quy n cho ông V3), ông V2 trình bày:
Về quan hệ gia đình, nguồn gốc thửa đ t và quá trình sử dụng đ t như ông V3, bà Vận đã trình bày, đề nghị Tòa án không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của cụ T, cụ H2.
Ng i có quy n lợi và nghĩa v liên quan Ủy ban nhân dân huy n Y, t nh V do ng i đ i di n theo ủy quy n quy n trình bày:
Về trình tự thủ tục c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K321391 ngày 30/9/2001 diện tích 573m2 thuộc tờ bản đồ số 3, thửa số 205 tại thôn D1, xã Y1 cho hộ ông Đặng Kim V3 là đúng theo quy định của pháp luật. Ông Đặng Kim T và cụ Hoàng Thị Mai H2 đề nghị hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t c p cho hộ ông Đặng Kim V3, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại ản án d n sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21/9/2020, Tòa án nh n d n tỉnh V đã quyết định:
Áp dụng:
Các Điều 26, 34 và 37 của ộ luật tố tụng d n sự năm 2015; Các Điều 166, 236 và 688 của ộ luật d n sự năm 2015; Các Điều 26, 166 Luật đ t đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
Không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Kim T, cụ Hoàng Thị Mai H2 (Do những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ H2 đại diện) về việc buộc bị đơn ông Đặng Kim V3 và bà Lê Thị V4 trả lại tài sản là quyền sử dụng đ t diện tích 573m2 thuộc tờ bản đồ số 3, thửa số 205, tại thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V và hủy gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K321391 ngày 30/9/2001, diện tích 573m2 thuộc tờ bản đồ số 3, thửa số 205 tại thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V, do U ND huyện Y, tỉnh V c p cho hộ ông Đặng Kim V3.
Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/9/2020, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn cụ Hoàng Thị Mai Hương là bà Nguyễn Thị Kim H3 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa ản án dân sự sơ thẩm, ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 02/10/2020, người đại diện theo ủy quyền của bà Hiếu là ông Nguyễn Văn H1 có đơn kháng cáo yêu cầu sửa ản án dân sự sơ thẩm, ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo là bà Nguyễn Thị Kim H3, ông Nguyễn Văn H1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng diện tích 573m2 đ t thuộc tờ bản đồ số 3, thửa số 205 tại thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V là tài sản cụ Hoàng Thị Mai H2 và cụ Đặng Kim T đã được ông Đặng Kim V3 thừa nhận tại Đơn xin chuyển nhượng đ t cho cụ T ngày 28/12/2011. Hiện nay cụ T vẫn giữ Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nên đề nghị Tòa án c p phúc thẩm sửa ản án dân sự sơ thẩm, ch p nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Hoàng Thị Mai H2 và cụ Đặng Kim T, công nhận quyền sử dụng đ t cho ông T, cụ H2 đối với thửa đ t số 205 tờ bản đồ số 3 diện tích 573m2 tại thôn D1, xã Y1, huyện Y. uộc vợ chồng ông Đặng Kim V3 phải tháo dỡ các công trình trên đ t trả lại nguyên trạng đ t cho ông T, cụ H2 và hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K321391 ngày 30/9/2001 của U ND huyện Y, tỉnh V đã c p cho hộ ông Đặng Kim V3.
ị đơn là ông Đặng Kim V3 đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không ch p nhận kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ H2, giữ nguyên quyết định của ản án dân sự sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nh n d n c p cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân c p cao tại Hà Nội th y còn có nội dung chưa được làm rõ sau:
- Tòa án c p sơ thẩm không đưa những người anh em ruột, anh em nuôi của cụ T, cụ H2 và cụ K vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để l y lời khai của những người này làm căn cứ xác định nguồn gốc diện tích đ t đang tranh ch p, trên đ t có các tài sản gì, tài sản đó là của ai qua từng thời điểm;
- Tòa án c p sơ thẩm chưa xác minh làm rõ việc mua bán, chuyển nhượng đ t giữa cụ L3 và ông V3 có hợp pháp hay không? Tại sao thửa đ t tranh ch p lại có hai số liệu về diện tích là 718m2 và 573m2? Chưa làm rõ vì sao cụ K để lại t t cả diện tích đ t cho ông V3 trong khi cụ K có 03 người con?
- Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đặng Kim V3 thừa nhận đơn đề nghị c p gi y chứng nhận, phần ký tên không phải ông ký mà là do cụ T3 (là mẹ ông) ký nên cần phải làm rõ nội dung này để xác định tính hợp pháp trong việc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho hộ ông Đặng Kim V3 năm 2001 vì cụ Đặng Kim T đang có yêu cầu hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t này.
Xét th y việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ để có cơ sở giải quyết vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 310 ộ Luật Tố tụng D n sự, khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính, ch p nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Kim H3 và ông Nguyễn Văn H1; Hủy ản án d n sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nh n d n tỉnh V, giao hồ sơ cho Tòa án nh n d n tỉnh V giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn cụ Hoàng Thị Mai Hương là bà Nguyễn Thị Kim H3, người đại diện theo ủy quyền của bà Hiếu là ông Nguyễn Văn H1 thực hiện trong hạn luật định nên được ch p nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ không đủ cơ sở để xác định diện tích 785m2 thuộc thửa số 101, tờ bản đồ số 9 (Bản đồ 299 lập năm 1978) tại thôn D1, xã Y1, huyện V8 (nay là huyện Y) và sổ đăng ký ruộng đ t lập năm 1985 thể hiện đứng tên người sử dụng là cụ Đặng Kim K (bố đẻ ông V3) chính là diện tích 573m2 thuộc thửa số 205, tờ bản đồ số 3 thể hiện tại trang số 46, sổ quản lý c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t năm 2001 đứng tên chủ hộ ông Đặng Kim V3.
Như vậy, có sự m u thuẫn về diện tích đ t tranh ch p, về ký hiệu thửa đẩt nhưng Tòa án c p sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ nguồn gốc và quá trình sử dụng đ t tranh ch p mà xác định đối tượng tranh ch p 573m2 đ t thuộc thửa số 205 tờ bản đồ số 3 tại Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t của U ND huyện Y c p cho hộ ông Đặng Kim V3 năm 2001 chính là 718m2 đ t thuộc tờ bản đồ số 9, thửa số 101 tại bản đồ 299 lập năm 1978 đứng tên cụ Đặng Kim K là không có căn cứ vững chắc.
Các bên đương sự trình bày không thống nh t về nguồn gốc và quá trình sử dụng đ t tranh ch p: Đồng nguyên đơn là cụ Hoàng Thị Mai H2 và cụ Đặng Kim T cho rằng nguồn gốc 573m2 đ t thuộc thửa số 205 tờ bản đồ số 3 tại thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V là 03 thửa đ t trên liền kề nhau trước đ y là của cố Hoàng Trìu. Trong thời kỳ cải cách ruộng đ t năm 1955, ông Đặng Kim T, cụ Hoàng Thị Mai H2 được Uỷ ban nh n d n (U ND) xã H6, huyện Y (nay là xã Y1, huyện Y) chia cho 384m2 đ t thổ cư, trên đ t có 01 điện thờ nay vẫn còn. Trong đó, cụ Hoàng Thị Mai H2 được chia 300m2. Năm 1960, cụ H2 đã x y nhà 04 gian, loại nhà c p 4, cụ Văn Thị T3 (mẹ ông V3) c ng được chia 120m2, trên đ t có 01 ngôi nhà c do cụ T3 làm. Năm 1976, cụ T đã cho cụ T3 sang ở nhờ. Năm 1992, mẹ cụ T qua đời, cụ H2 và cụ T đi công tác xa nên vợ chồng cụ T3, cụ K (là bố, mẹ ông V3) vẫn ở nhờ trông coi. Năm 1993, cụ K chết thì cụ T3 vẫn ở tại đ y.
Đồng bị đơn là ông Đặng Kim V3 và bà Lê Thị V4 khẳng định nguồn gốc đ t là của các cố Đặng Kim Lẫm, Nguyễn Thị Chi, Lê Thị Cảnh. Năm 1978, các cố đã cho cụ Đặng Kim K và sau đó cụ K tặng cho ông. Tuy nhiên, quá trình tham gia tố tụng, ông Đặng Kim V3 thừa nhận trên diện tích đ t đang tranh ch p có một phần đ t và nhà c p 4 của cụ Hoàng Thị Mai H2 x y dựng và một phần đ t của ông Đặng Kim T nhưng quá trình sử dụng đ t, cụ H2 và ông T không có nhu cầu sử dụng đ t nên đã nhượng toàn bộ diện tích đ t trên cho bố ông là cụ Đặng Kim K bằng 03 chỉ vàng và 2,5 vạn gạch.
Trong khi đó, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là cụ Văn Thị T6 lại khẳng định (tại iên bản ghi lời khai ngày 03/5/2017 - BL 319) năm 1954 hai cụ (cụ Đặng Kim C (K), Văn Thị T6 được Nhà nước c p cho diện tích đ t khoảng 02 sào ắc bộ để ở. Sau này diện tích đ t trên được quy thửa 205, tờ bản đồ số 03 tại thôn D1, xã Y1, huyện Y, tỉnh V. Khoảng năm 1980 đến 1983, cụ và cụ K đã chuyển nhượng cho cụ Đặng Kim Lãm 240m2, diện tích đ t còn lại 573m2 hai cụ cho con trai là ông Đặng Kim V3.
Trình bày của đương sự m u thuẫn về nguồn gốc và quá trình sử dụng đ t tranh ch p. Hồ sơ c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K321391 diện tích 573m2 đứng tên hộ ông Đặng Kim V3 m u thuẫn với ản di chúc ngày 29/7/1978 của cố Nguyễn Thị C2 và các Đơn xin chuyển nhượng quyền sử dụng đ t ngày 28/12/2011 và iên bản h p gia đình ngày 11/7/2015 nhưng chưa được Tòa án c p sơ thẩm xác minh làm rõ.
Đương sự cung c p ản di chúc ngày 29/7/1978 của cố Nguyễn Thị C2 nhưng Tòa án c p sơ thẩm không đưa những người thuộc hàng thừa kế của cố Đặng Kim L3, cố Nguyễn Thị C2, cố Lê Thị C3 tham gia tố tụng để ghi nhận ý kiến của h về ản di chúc nêu trên là xác định thiếu người tham gia tố tụng.
Quá trình tham gia tố tụng, vợ chồng ông V3, bà Vận và cụ T6 trình bày vợ chồng cụ K, cụ T6 đã chuyển nhượng cho cụ Đặng Kim L3 240m2 vào khoảng năm 1980 đến 1983 nhưng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đ t giữa cụ L3 và ông V3 được ký kết ngày 16/10/2018, là sau ngày Tòa án đã thụ lý vụ án tranh ch p quyền sử dụng đ t giữa cụ T, cụ H6 và vợ chồng ông V3, bà V, Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đứng tên cụ Đặng Kim L4 được c p ngày 11/10/2018 c ng đang trong thời điểm Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ việc nhưng Tòa án sơ thẩm không xác minh, thu thập hồ sơ c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho cụ L3 và làm rõ việc mua bán, chuyển nhượng đ t giữa cụ L3 và ông V3 có hợp pháp hay không là chưa giải quyết triệt để vụ án.
Cụ Đặng Kim T đang có yêu cầu hủy Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số K321391 ngày 30/9/2001 của U ND huyện Y, tỉnh V đã c p cho hộ ông Đặng Kim V3. Quá trình tham gia tố tụng, ông Đặng Kim V3 thừa nhận đơn đề nghị c p gi y chứng nhận, phần ký tên không phải ông ký mà là do cụ Văn Thị T6 ký và thừa nhận trên đ t còn tồn tại tài sản gắn liền với đ t của cụ H6, cụ T nhưng Tòa án c p sơ thẩm chưa làm rõ để có cơ sở xem xét tính hợp pháp trong việc c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t nêu trên cho hộ ông Đặng Kim V3 là chưa điều tra, xác minh đầy đủ.
Xét th y: Việc thu thập chứng cứ quan tr ng của vụ án chưa được Tòa án c p sơ thẩm thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được nên Hội đồng xét xử phúc thẩm ch p nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nh n d n c p cao tại Hà Nội, hủy ản án dân sự sơ thẩm và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nh n d n tỉnh V giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Do Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm nên những người kháng cáo là bà Nguyễn Thị Kim H3, ông Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí d n sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ Điều 310 ộ Luật Tố tụng D n sự ; khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Ch p nhận một phần yêu cầu kháng cáo của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn (cụ Hoàng Thị Mai H2) là bà Nguyễn Thị Kim H3, ông Nguyễn Văn H1; Hủy toàn bộ ản án d n sự sơ thẩm số 10/2020/DS-ST ngày 21/9/2020 của Tòa án nh n d n tỉnh V; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nh n d n tỉnh V giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí d n sự phúc thẩm, nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. ản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND c p cao tại Hà Nội; - TAND tỉnh V; - VKSND tỉnh V; - Cục THADS tỉnh V; - Các đương sự (theo đ/c); - Lưu HS, HCTP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Thị Mai |