- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Phượng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. RẠCH GIÁ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 110/2020/HS-ST. Ngày: 27/7/2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Lệ Nga.
2. Ông Mai Văn Bé Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tú– Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Rạch Giá, tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thức – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 110/2020/HS-ST ngày 22 tháng 6 năm 2020,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Ph – sinh năm: 1986; Tên gọi khác: Nhí; Quê quán: Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: Nữ; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số Tổ 6, khu phố Sơn Tịnh, thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/12; Cha: Nguyễn Văn Dinh, sinh năm 1963; Mẹ: Nguyễn Thị Bình, sinh năm 1964; Chồng: Nguyễn Thanh Tuấn, sinh năm 1980; Con : 07 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2018; Anh Chị ruột: 06 người, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1992.
Tiền án:
- Ngày 18/6/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản”. Được hoãn thi hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi, chưa chấp hành;
- Ngày 25/7/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản”. Được hoãn thi hành án do nuôi con dưới 36 tháng tuổi, chưa chấp hành;
- Ngày 10/10/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 165, ngày 25/7/2016 là 02 năm 9 tháng tù (trừ đi mức án 01 năm 03 tháng tù đối với 02 bản án về tội Vận chuyển và Buôn bán hàng cấm được miễn chấp hành hình phạt do thay đổi chính sách pháp luật). Tổng hợp hình phạt là 05 năm 03 tháng tù, chưa chấp hành án.
Nhân thân:
- Ngày 16/11/2012, bị Công an thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán hàng cấm”, đã xóa tiền sự;
- Ngày 26/7/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Vận chuyển hàng cấm”, được xét miễn chấp hành hình phạt do có sự thay đổi chính sách, pháp luật, đã được xóa án tích;
- Ngày 02/4/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, được xét miễn chấp hành hình phạt do có sự thay đổi chính sách, pháp luật, đã được xóa án tích.
Tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại tại địa chỉ trên, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị Yến Nhi, sinh năm: 1985. (vắng mặt)
Địa chỉ: số 673/99A, Lộ Liên Hương, khu phố Nam Cao, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
2. Bà Trƣơng Thị Tƣơi, sinh năm: 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ: 103, Trịnh Hoài Đức, khu phố 3, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Người làm chứng:
- Ông Lạc Vĩnh Sơn, sinh năm: 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 107/1, Nguyễn Trãi, phường Vĩnh Thanh, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Huỳnh Thanh Tùng, sinh năm: 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: 107/21/15, Ngô Quyền, phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Nguyễn Hồng Ân, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp Hưng Giang, xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Huỳnh Văn Viên, sinh năm 1961 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 673/99, Lộ Liên Hương, khu phố Nam Cao, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Ph là người có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích và đang trong thời gian hoãn chấp hành án phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Trong quá trình buôn bán nhỏ tại chợ Sóc Sơn bị thua lỗ không có tiền tiêu xài nên Ph đã nảy sinh ý định tìm người nào có sơ hở trong quản lý tài sản để trộm cắp (bút lục số 24; 83-93; 122; 125). Trong thời gian từ ngày 11/3/2020 đến ngày 12/3/2020, Ph đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Rạch giá. Cụ thể:
Vào khoảng 10 giờ ngày 11/3/2020, Nguyễn Thị Ph điều khiển xe môtô nhãn hiệu LXMOTO màu đỏ xám (loại Wave), biển số 61R1-3568 (xe do Nguyễn Thị Bình mẹ ruột Ph cho mượn để đi lại, bà Bình không biết Ph dùng xe đi trộm cắp tài sản) đi từ nhà Ph ở tổ 6, khu phố Sơn Tịnh, thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đến khu vực chợ 30/4, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá để tìm tài sản trộm cắp. Khi Ph điều khiển xe đến trước cửa hàng bán tạp hóa của chị Nguyễn Thị Yến Nhi, số 673/99A, đường Lộ Liên Hương, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá nhìn thấy bên trong cửa hàng không có ai trông coi nên Ph lén lút đi vào trong cửa hàng tìm kiếm tài sản lấy trộm thì phát hiện 01 (một) hộp thiết (sắt) hình tròn, để ở trên thùng nước suối ở bên trong cửa hàng. Ph mở ra thì thấy bên trong có tiền Việt Nam là 522.000 đồng (năm trăm hai mươi hai ngàn đồng) và nhiều thẻ cào điện thoại của các nhà mạng Vinaphone, Mobiphone, Viettel, Vietnamobile, tất cả còn nguyên vẹn, chưa qua sử dụng, với nhiều mệnh giá khác nhau. Ph nhanh chóng lấy hết số tiền và thẻ cào điện thoại trong hộp thiếc bỏ vào túi nylong của Ph đem theo, trong túi nylong Ph có cất giấy tờ cá nhân và 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng của Ph. Sau khi lấy tài sản xong, Ph nhanh chóng đi ra ngoài định tẩu thoát thì bị anh Nguyễn Hồng Ân (là em ruột của Nhi) và ông Huỳnh Văn Viên phát hiện bắt giữ (bút lục số 26-27; 28-29). Lúc này, chị Nguyễn Thị Yến Nhi đi về phát hiện cửa hàng bị mất trộm nên trình báo Công an phường Vĩnh Quang đến nơi bắt giữ Ph; tiến hành thu giữ và kiểm tra bên trong túi nylong của Ph có tiền Việt Nam là 1.022.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi hai ngàn đồng); 37 thẻ cào điện thoại mạng Vinaphone chưa qua sử dụng, gồm 05 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng, 04 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 19 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng; 14 thẻ cào điện thoại mạng Viettel chưa qua sử dụng, gồm 01 thẻ cào mệnh giá 50.000, 06 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 07 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng; 17 thẻ cào điện thoại mạng Mobiphone chưa qua sử dụng, gồm 03 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 03 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 11 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng; 16 thẻ cào điện thoại mạng Vietnamobile chưa qua sử dụng, gồm 02 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 05 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng. Tổng giá trị các thẻ cào là 1.960.000 đồng (một triệu chín trăm sáu chục ngàn đồng). Tiếp tục kiểm tra, thu giữ trên người Ph 18 thẻ cào điện thoại các mạng Vinaphone, Viettel, Vietnamobile chưa qua sử dụng gồm: 13 thẻ cào Viettel mệnh giá 20.000 đồng, 02 thẻ cào Viettel mệnh giá 10.000 đồng, 02 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 01 thẻ cào Vietnamobile mệnh giá 20.000 đồng và tiền Việt Nam 90.000 đồng (chín mươi ngàn đồng) (đây là tài sản cá nhân của Ph). Quá trình làm việc tại Công an phường, Ph thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội (bút lục số 26-27; 28-29; 31; 36; 38; 44; 69-70).
Vào khoảng 12 giờ ngày 12/3/2020, Ph đi xe buýt từ nhà của mình ở tổ 6, khu phố Sơn Tịnh, thị trấn Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đến Công an phường Vĩnh Quang để xin lại xe mô tô, tiền và thẻ cào điện thoại của Ph đang bị Công an tạm giữ nhưng chưa được giải quyết (bút lục số 24). Do không có tiền tiêu xài nên Ph nảy sinh ý định tìm tài sản sơ hở của người khác để lấy trộm. Ph thuê xe ôm của ông Lạc Vĩnh Sơn, Ph kêu ông Sơn chở đến ngã ba đường Trần Hưng Đạo – Trịnh Hoài Đức, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá có công việc (ông Sơn không biết Ph kêu chở đi tìm tài sản của người khác để lấy trộm). Khi đi ngang nhà số 103, đường Trịnh Hoài Đức, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá thì Ph phát hiện bà Trương Thị Tươi đang nằm ngủ trên võng không ai trông coi nhà nên Phượng kêu ông Sơn dừng xe lại, đậu xe ở đầu đường chờ Phượng đi vào trong nhà có công việc. Sau đó, Phượng đi bộ vào trong nhà chỗ bà Tươi nằm ngủ thì phát hiện có 01 (một) hộp thiếc (sắt), để ở bên trên thùng giấy kế bên nơi bà Tươi đang ngủ, Phượng nghĩ bên trong có tiền nên đã lén lút lấy trộm hộp thiếc cầm trên tay, sau đó nhanh chóng tẩu thoát về hướng ông Sơn đang đậu xe. Lúc này, bà Tươi giật mình thức dậy nhìn thấy Phượng đi từ nhà mình ra ngoài trên tay cầm hộp thiếc, biết là Phượng lấy trộm tài sản của mình nên bà Tươi tri hô mọi người xung quanh đuổi theo Phượng. Phượng bỏ chạy thì ông Sơn nhìn thấy, biết Phượng có hành vi trộm cắp tài sản nên không đồng ý chở Phượng thì Phượng ném bỏ hộp thiết ngay cạnh thùng rác gần đó và bỏ chạy về hướng chợ Nguyễn Thoại Hầu, phường Vĩnh Thanh Vân thì bị anh Huỳnh Thanh Tùng đuổi theo bắt giữ (bút lục số 46-47; 71; 75; 77). Sau đó, Công an phường Vĩnh Thanh Vân mời Phượng về trụ sở Công an phường làm việc và thu giữ, kiểm tra bên trong hộp thiếc có 81 thẻ cào điện thoại các mạng Vinaphone, Viettel, Vietnamobile chưa qua sử dụng, gồm: 03 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 100.000 đồng, 07 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 50.000 đồng, 15 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 20.000 đồng, 12 thẻ cào Vinaphone mệnh giá 10.000 đồng; 03 thẻ cào Viettel mệnh giá 100.000 đồng, 03 thẻ cào Viettel mệnh giá 20.000 đồng, 13 thẻ cào Viettel mệnh giá 10.000 đồng; 01 thẻ cào Mobiphone mệnh giá 100.000 đồng, 02 thẻ cào Mobiphone mệnh giá 50.000 đồng, 21 thẻ cào Mobiphone mệnh giá 20.000 đồng, 01 thẻ cào Mobiphone mệnh giá 10.000 đồng. Tổng giá trị các thẻ cào là 2.190.000 đồng (hai triệu một trăm chín chục ngàn đồng). Tại Cơ quan Công an, Phượng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Đến ngày 19/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với Nguyễn Thị Phượng về tội Trộm cắp tài sản để điều tra.
* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu LXMOTO, màu đỏ xám (loại Wave), số máy: 007775, số khung: 07775, biển kiểm soát 61R1-3568, đã qua sử dụng.
- Thu giữ trong túi nylong của Nguyễn Thị Phượng vào ngày 11/3/2020 gồm:
+ Tiền Việt Nam: 1.022.000 đồng (một triệu không trăm hai mươi hai ngàn đồng);
+ Thẻ cào điện thoại mạng Vinaphone chưa qua sử dụng gồm: 05 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng, 04 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 19 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ Thẻ cào điện thoại mạng Viettel chưa qua sử dụng gồm: 01 thẻ cào mệnh giá 50.000, 06 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 07 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ Thẻ cào điện thoại mạng Mobiphone chưa qua sử dụng gồm: 03 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 03 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 11 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ Thẻ cào điện thoại mạng Vietnamobile chưa qua sử dụng gồm: 02 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 05 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng.
- Thu giữ trên người Nguyễn Thị Phượng vào ngày 11/3/2020 gồm:
+ 13 thẻ cào Viettel chưa qua sử dụng mệnh giá 20.000 đồng, 02 thẻ cào Viettel chưa qua sử dụng mệnh giá 10.000 đồng, 02 thẻ cào Vinaphone chưa qua sử dụng mệnh giá 20.000 đồng, 01 thẻ cào Vietnamobile chưa qua sử dụng mệnh giá 20.000 đồng;
+ Tiền Việt Nam 90.000 đồng (chín mươi ngàn đồng).
- Thu giữ trong hộp thiếc (sắt) Nguyễn Thị Phượng lấy trộm của bà Trương Thị Tươi vào ngày 12/3/2020:
+ Thẻ cào điện thoại mạng Vinaphone chưa qua sử dụng, gồm 03 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng, 07 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 15 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 12 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ Thẻ cào điện thoại mạng Viettel chưa qua sử dụng gồm 03 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 13 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng, 03 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng;
+ Thẻ cào điện thoại mạng Mobiphone chưa qua sử dụng gồm 02 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 21 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 01 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng.
* Về xử lý vật chứng:
- Cơ quan điều tra đã trao trả cho người bị hại Nguyễn Thị Yến Nhi:
+ Tiền Việt Nam 522.000 đồng (năm trăm hai mươi hai ngàn đồng);
+ 37 thẻ cào điện thoại mạng Vinaphone chưa qua sử dụng gồm: 05 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng, 04 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 19 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ 14 thẻ cào điện thoại mạng Viettel chưa qua sử dụng gồm: 01 thẻ cào mệnh giá 50.000, 06 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 07 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ 17 thẻ cào điện thoại mạng Mobiphone chưa qua sử dụng gồm: 03 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 03 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 11 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ 16 thẻ cào điện thoại mạng Vietnamobile chưa qua sử dụng gồm: 02 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 09 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 05 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng.
- Cơ quan điều tra đã trao trả cho người bị hại Trương Thị Tươi:
+ 37 thẻ cào điện thoại mạng Vinaphone chưa qua sử dụng, gồm 03 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng, 07 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 15 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 12 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng;
+ 19 thẻ cào điện thoại mạng Viettel chưa qua sử dụng gồm 03 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 13 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng, 03 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng;
+ 25 thẻ cào điện thoại mạng Mobiphone chưa qua sử dụng gồm 02 thẻ cào mệnh giá 50.000 đồng, 21 thẻ cào mệnh giá 20.000 đồng, 01 thẻ cào mệnh giá 10.000 đồng, 01 thẻ cào mệnh giá 100.000 đồng.
- Cơ quan điều tra đã trao trả cho bà Nguyễn Thị Bình: 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu LXMOTO, màu đỏ xám (loại Wave), số máy: 007775, số khung: 07775, biển kiểm soát 61R1-3568, đã qua sử dụng do Phượng mượn của bà Bình, bà không biết được Phượng dùng vào việc phạm tội, (bút lục số 111).
- Cơ quan điều tra đã trao trả cho Nguyễn Thị Phượng tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội gồm:
+ Tiền Việt Nam 590.000 đồng (năm trăm chín mươi ngàn đồng);
+ 13 thẻ cào Viettel chưa qua sử dụng mệnh giá 20.000 đồng, 02 thẻ cào Viettel chưa qua sử dụng mệnh giá 10.000 đồng, 02 thẻ cào Vinaphone chưa qua sử dụng mệnh giá 20.000 đồng, 01 thẻ cào Vietnamobile chưa qua sử dụng mệnh giá 20.000 đồng. (bút lục số 112).
* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị Yến Nhi, bị hại Trương Thị Tươi đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 126/CT-VKSRG; Rạch Giá, ngày 22 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phượng về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa:
- Bị cáo Nguyễn Thị Phượng đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội quay về làm ăn lương thiện.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Phượng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để tuyên phạt cho bị cáo Nguyễn Thị Phượng mức án từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của bản án số 156/2018/HS-ST; ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá là 5 (năm) năm 03 (ba) tháng tù.
Về dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị Yến Nhi và người bị hại Trương Thị Tươi đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu gì khác.
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, bản thân bị cáo biết ăn năn, hối cải, hiện nay bị cáo đang nuôi con nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo sửa đổi bản thân để lo cho gia đình và nuôi dạy con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với nội dung bản cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:
Bản thân bị cáo Nguyễn Thị Phượng là người có 03 tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích và đang trong thời gian hoãn chấp hành án phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Do muốn có tiền tiêu xài nên từ ngày 11/3/2020 đến ngày 12/3/2020, Phượng đã liên tiếp thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố Rạch giá. Tổng giá trị tài sản Phượng lấy trộm là 4.672.000 đồng Cụ thể:
Khoảng 10 giờ ngày 11/3/2020, Phượng đến cửa hàng bán tạp hóa số 673/99A, đường Lộ Liên Hương, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá lén lút lấy trộm của của chị Nguyễn Thị Yến Nhi tiền Việt Nam là 522.000 đồng và 84 thẻ cào điện thoại của các nhà mạng Vinaphone, Mobiphone, Viettel, Vietnamobile chưa qua sử dụng, có giá trị là 1.960.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Phượng trộm cắp của chị Yến Nhi là 2.482.000 đồng.
Vào khoảng 12 giờ ngày 12/3/2020, Phượng đến nhà số 103, đường Trịnh Hoài Đức, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá tiếp tục lén lút lấy trộm của bà Trương Thị Tươi gồm 81 thẻ cào điện thoại các mạng Vinaphone, Mobiphone, Viettel chưa qua sử dụng, có giá trị là 2.190.000 đồng.
Như vậy, hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị Phượng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính lười lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lợi dụng sư sơ hở của người bị hại lén lút thực hiện trộm cắp tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản, của người bị hại một cách trái pháp luật. Bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu đã từng có 03 tiền án cũng về hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích và đang trong thời gian hoãn chấp hành án phạt tù do nuôi con dưới 36 tháng tuổi, ngoài ra bị cáo đã từng bị 01 lần xử phạt về hanh vi “Vận chuyển hàng cấm”; 01 lần xử phạt về hành “Mua bán hàng cấm” nhưng do chính sách pháp luật thay đổi nên bị cáo được miễn hình phạt đối với 02 lần phạm tội này. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sỡ hữu về tài sản được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an của địa phươn, gây bất an trong nhân dân. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần có hình phạt tương xứng đối với bị cáo, đồng thời cách ly bị cáo một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để cân nhắc hình phạt đối với bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Trong vụ án này bị cáo phạm tội 02 lần trở lên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, áp dụng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo do vậy mức hình phạt theo đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo thu nhập không ổn định và đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị Yến Nhi và người bị hại Trương Thị Tươi đã nhận lại tài sản bị mất nên không yêu cầu gì khác, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã xử lý vật chứng đúng theo quy định tại Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về các vấn đề khác: Đối với ông Lạc Vĩnh Sơn là người chạy xe ôm chở bị cáo Phượng và bà Nguyễn Thị Bình cho bị cáo Phượng mượn xe mô tô nhưng không biết việc bị cáo đi trộm cắp tài sản của người khác nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 199 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Phượng phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Phượng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phượng 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng: khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt của Bản án số 156/2018/HS-ST, ngày 10/10/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá là 5 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt của 02 bản án là 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Phượng phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/7/2020). Riêng người bị hại, vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tỉnh Kiên Giang
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Thành Phố Rạch Giá
- Cơ quan THA Dân sự TP.Rạch Giá
- Công An Thành Phố Rạch Giá.
- Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang.
- Bị cáo
- Lưu .
Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
*Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/5/2020). Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Kiên Giang - VKSND Thành Phố Rạch Giá - Cơ quan THA Dân sự TP.Rạch Giá - Công An Thành Phố Rạch Giá. - Sở tư pháp tỉnh Kiên Giang. - Bị cáo - Lưu . cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm(ngày 21/5/2020).Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh *Quyền kháng cáo: Báo chobị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòacó quyền kháng THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |