vanban.org

Bản án 110/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 17/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dưỡng Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Xử phạt: Bị cáo Dưỡng Thanh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 8 năm 2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dưỡng Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 110/2020/HS-ST
Ngày 17 tháng 11 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Nguyễn Thị Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Lê Thị Thanh Vân

2/ Bà Phan Hoàng Mai

- Thư ký phiên tòa:

ùi Thị Lan- Thư ký Tòa án nhân dân th nh phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Khoa - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 111/2020/TLST-HS, ngày 21 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2020/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Dưỡng Thanh C (C1), sinh năm 1987 tại thành phố X, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Tổ 2, khóm Đ, phường X, thành phố X, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn T (chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1958; bị cáo chưa có vợ con; có 04 anh em, bị cáo thứ hai.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 23 tháng 10 năm 2019 bị Công an phường Mỹ ình, thành phố Long Xuyên xử phạt vi phạm h nh chính 1.000.000 đồng về h nh vi trộm cắp t i sản, đã nộp phạt ng y 28 tháng 10 năm 2019;

ị cáo bị bắt tạm giam từ ng y 04 tháng 08 năm 2020 đến nay tại Nh tạm giữ Công an th nh phố Long Xuyên. ị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Phan Thị Lê T, sinh năm 1963 (vắng mặt)

+ Nơi cư trú: số 852 Hà Hoàng Hổ, khóm Đ2, phường X, thành phố X, tỉnh An Giang.

2/ Võ Thanh P, sinh năm 1989 (vắng mặt)

+ Nơi cư trú: Số 418/2, khóm Đ 3, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.

3/ Nguyễn Thành N, sinh năm 1995 (vắng mặt)

+ Nơi cư trú: Số 59/5H, khóm P, phường Q, thành phố X, tỉnh An Giang.

4/ Lê Minh H, sinh năm 1970 (vắng mặt)

+ Nơi cư trú: Số 1539 Trần Hưng Đạo, khóm Đ 2, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang.

- Người làm chứng: Lê Minh C, sinh năm 1997 (vắng mặt)

+ Nơi cư trú: Số 417/3, khóm Đ 3, phường M, thành phố X, tỉnh An Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: H Trường Ngọc H, sinh năm 1972. (vắng mặt)

+ Nơi cư trú: Số 750/10, khóm Đ, phường X, thành phố X, tỉnh An Giang.

- Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Bà Bùi Trần Phú Thư l Luật sư của Văn phòng Luật sư Phú Thư thuộc Đo n Luật sư tỉnh An Giang. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dưỡng Thanh C l người không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài từ ngày 06 tháng 11 năm 2015 đến ng y 01 tháng 06 năm 2020, Cảnh đã 04 lần thực hiện hành vi trộm tài sản của người khác trên địa phận các phường Mỹ Xuyên, Mỹ Long, Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ 30 phút ng y 06 tháng 11 năm 2015, C đi qua nhà bà Phan Thị Lệ T ở số 852, đường Hà Hoàng Hổ, khóm Đ 2, phường X thấy cửa nhà không khóa nên vào trong lục chiếc túi xách lấy trộm 2.000.000 đồng. C khai đã tiêu x i 1.110.000 đồng, còn lại 890.000 đồng C đã giao nộp cho Công an phường X vào ngày 07 tháng 11 năm 2015.

Lần thứ hai: Khoảng 00 giờ 30 phút ng y 10 tháng 06 năm 2016, C đến khách sạn Đông Xuyên trên đường Nguyễn Văn Cưng, phường Mỹ Long trèo vào quầy pha chế cà phê lục túi quần của anh Nguyễn Thanh N treo trên vách tường lấy trộm 2.000.000 đồng để trong bóp da. C sử dụng số tiền này mua vé số kiến thiết bán lại, mua 01 bộ quần áo và tiêu xài hết 1.380.000 đồng. Đến ngày 13 tháng 6 năm 2016, Cảnh đến Công an phường Mỹ Long đầu thú, giao nộp 36 tờ vé số, 01 áo sơ mi ngắn tay sọc ca rô đỏ - xanh, 01 quần Jeans dài màu xanh và 620.000 đồng.

Lần thứ ba: Khoảng 07 giờ 50 phút ng y 26 tháng 12 năm 2019, C đi qua cửa hàng bán cao su Tuyết Rơi của anh Võ Thành P ở số 18A, đường Trần Nhật Duật, phường Mỹ Long thấy không có người trông giữ nên vào trong mở ngăn kéo tủ kính trưng b y sản phẩm lấy trộm 1.110.000 đồng thì bị anh Lê Minh C là nhân viên cửa hàng phát hiện bắt giữ giao cho Công an phường Mỹ Long lập biên bản.

Lần thứ tư: Khoảng 12 giờ 00 phút ng y 01 tháng 06 năm 2020, Cảnh đi qua cửa hàng mua bán phụ tùng xe máy Hằng Nga của anh Lê Minh H ở số 1539, đường Trần Hưng Đạo,phường Mỹ Phước thấy không có người trông giữ nên vào trong mở ngăn tủ tại quầy tính tiền lấy trộm 10.000.000 đồng. C khai sử dụng số tiền này trả nợ của bà H Trường Ngọc H 600.000 đồng, còn lại 9.990.000 đồng đã giao nộp cho Công an phường Mỹ Phước khi bị mời làm việc vào khoảng 21 giờ 01 tháng 6 năm 2020.

* Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:

- 36 tờ vé số do Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp phát hành, mở thường 13 tháng 6 năm 2016.

- 01 cái áo sơ mi ngắn tay sọc ca rô xanh đỏ, 01 cái quần Jeans dài màu xanh.

- 11.500.000 đồng

* Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 156/2020/KLGĐ ng y 03 tháng 7 năm 2020 v Công văn số 156.0/PYTT ngày 12 tháng 8 năm 2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ đối với Dưỡng Thanh C , sinh năm 1987 như sau:

- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội các ngày 06/11/2015, 10/6/2020, 14/9/2020, 26/12/2019, 01/6/2020 và hiện tại: Đương sự có bệnh lý tâm thần nhẹ, có rối loạn hành vi ( F70.1- ICD10 )

- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội các ngày 06/11/2015, 10/6/2016, 14/9/2019, 26/12/2019, 01/6/2020 và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức v điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.

Tại bản Cáo trạng số 110/CT.VKS ngày 19 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Dưỡng Thanh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên Cáo Trạng truy tố, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Dưỡng Thanh C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Luật sư b o chữa cho bị cáo: Thống nhất về tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đề nghị. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử có quan tâm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do hoàn cảnh bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo bệnh tâm thần nhẹ làm hạn chế khả năng nhận thức v điều khiển hành vi từ nhỏ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản như nội dung quyết định truy tố. Đối với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo ăn năn về hành vi vi phạm pháp luật, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại cũng không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng v người tiến hành tố tụng.

Về thủ tục tố tụng: Những người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v những người l m chứng vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai, do đó việc vắng mặt của những người n y cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

Xét thấy trong quá trình điều tra người bị hại, người l m chứng v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã cung cấp lời khai phù hợp với nội dung, diễn biến các vụ trộm do bị cáo C thực hiện từ ngày 06 tháng 11 năm 2015 đến ng y 01/6/2020, nên việc vắng mặt bị hại v người liên quan v người l m chứng tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 ộ luật tố tụng hình sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến h nh xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận h nh vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố m đại diện Viện kiểm sát đã công bố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; lời khai của bị hại, những người l m chứng v các t i liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ xác định:

+ Ng y 06 tháng 11 năm 2015 bị cáo đã lấy trộm 2.000.000 đồng của bà Phan Thị Lệ T;

+ Ngày 10 tháng 06 năm 2016 bị cáo đã lấy trộm 2.000.000 đồng của anh Nguyễn Thanh N ;

+ Ng y 26 tháng 12 năm 2019 bị cáo đã lấy trộm 1.110.000 đồng của anh Võ Thành P ;

+ Ng y 01 tháng 06 năm 2020, bị cáo đã lấy trộm 10.000.000 đồng anh Lê Minh H .

H nh vi của bị cáo C đã phạm tội “Trộm cắp t i sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Bị cáo l người đã trưởng thành, tuy tại thời điểm phạm tội bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức v điều khiển h nh vi nhưng bị cáo vẫn ý thức được việc xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm nhưng bị cáo đã bất chấp hậu quả xảy ra và cố ý thực hiện. Do tham lam, lười biếng lao động nhưng lại muốn có nhiều tiền tiêu xài mà không phải tốn nhiều công sức lao động cực nhọc, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu quản lý tài sản để thực hiện 04 vụ trộm cắp trên địa bàn thành phố Long Xuyên từ năm 2015 đến năm 2020. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.

Bị cáo bị đưa v o trường giáo dưỡng v o năm 2002 và bị Công an phường Mỹ Bình xử phạt vi phạm h nh chính v o năm 2019 cùng về h nh vi “Trộm cắp tài sản”. Lẽ ra sau khi chấp hành xong quyết định, được giáo dục, cải tạo bị cáo phải thấy được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, phải biết ăn năn hối cải, cố gắng lao động để nuôi sống bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội. Nhưng ngược lại bị cáo vẫn liên tục thực hiện các vụ trộm cắp tài sản cho đến khi bị bắt giữ, hành vi của bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”. Do đó, cần có một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo để giáo dục, răn đe v phòng ngừa chung trong xã hội.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, bị cáo đã đầu thú khai báo h nh vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ r thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bệnh lý tâm thần nhẹ l m hạn chế khả năng nhận thức v điều khiển hành vi. Đây l các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm q, s khoản 1 v khoản 2 Điều 51 ộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

ị cáo đã 04 lần thực hiện h nh vi trộm cắp t i sản trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 6 năm 2020, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội từ 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 ộ luật Hình sự.

Các biện pháp tư pháp khác:

Bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người bị hại thì bị cáo có trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, các người bị hại như: ông Nguyễn Thành N , Võ Thanh P , Lê Minh H , Lê Minh C không yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Phan Thị Lệ T cho rằng bị cáo đã lấy trộm của bà số tiền 4.200.000đ, b T đã nhận lại 890.000đ v yêu cầu bị cáo bồi thường 3.310.000đ. Bị cáo thừa nhận chỉ lấy trộm 2.000.000đ. Ngo i lời khai của bà T không còn chứng cứ nào khác để chứng minh bị cáo đã lấy trộm số tiền 4.200.000đ nên không có căn cứ chấp nhận theo yêu cầu của bà Thủy, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bà Thủy số tiền 1.110.000đ.

Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm:

- 36 tờ vé số do Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp phát hành, mở thường 13 tháng 6 năm 2016;

- 01 cái áo sơ mi ngắn tay sọc ca rô xanh đỏ;

- 01 cái quần Jeans dài màu xanh;

Những vật chứng này không còn giá trị sử dụng do đó cần tịch thu, tiêu hủy.

Tất cả các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/10/2020.

Về án phí: Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thì bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Do đó căn cứ v o điểm đ khoản 1 Điều 11 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Dưỡng Thanh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên xử:

[1] Xử phạt: Bị cáo Dưỡng Thanh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 8 năm 2020.

[2] Trách nhiệm dân sự:

Căn cứ: Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Dưỡng Thanh C bồi thường bà Phan Thị Lệ T số tiền 1.110.000đ (một triệu một trăm mười nghìn đồng).

Kể từ ng y có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi h nh án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi h nh án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm:

- 36 tờ vé số do Công ty xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp phát hành, mở thường 13 tháng 6 năm 2016;

- 01 cái áo sơ mi ngắn tay sọc ca rô xanh đỏ;

- 01 cái quần Jeans dài màu xanh;

Tất cả các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/10/2020.

[4] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14, ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

ị cáo Dưỡng Thanh C không phải chịu án phí hình sự v dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ v o Điều 331 v Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

ị cáo, người b o chữa cho bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ng y, kể từ ng y tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi h nh án dân sự, người phải thi h nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi h nh án, quyền yêu cầu thi h nh án, tự nguyện thi h nh án hoặc bị cưỡng chế thi h nh theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b v Điều 9 Luật Thi h nh án dân sự; thời hiệu thi h nh án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi h nh án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ