vanban.org

Bản án 110/2020/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận Đơn khởi kiện của chị Trần Huỳnh N. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Huỳnh N ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn, nuôi dưỡng con chung."
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẤN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 04-6-2020
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Khanh.

2. Ông Lý Hồng Hạnh.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.

Ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 18/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2020 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Huỳnh N, sinh năm: 1988.

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Trong Đơn khởi kiện ngày 11 tháng 7 năm 2019 cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Trần Huỳnh N trình bày: Chị và anh H qua tìm hiểu tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2013 và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Trần Trí K, sinh ngày 04/8/2013. Quá trình chung sống cuộc hôn nhân của anh chị gặp nhiều mâu thuẫn do anh H nhiều lần cờ bạc gây nên nợ nần, chị N phải bán vàng cưới cho anh H trả nợ, nhưng nhiều lần như vậy chị N cho anh H cơ hội để sửa đổi nhưng anh H vẫn không thay đổi, nay mục đích hôn nhân không đạt được chị N yêu cầu được ly hôn với anh H. Về con chung cháu Nguyễn Trần Trí K hiện đang sống cùng chị N, chị N có việc làm và thu nhập ổn định nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có.

- Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị N qua tìm hiểu tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn vào năm 2013. Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Trần Trí K, sinh ngày 04/8/2013. Quá trình chung sống anh H thừa nhận anh có chơi đánh bạc và gây nợ như chị N trình bày, cháu K còn nhỏ nên anh muốn hàn gắn cùng chị N. Anh chị không có tài sản chung và nợ chung.

Tại phiên tòa hôm nay.

Nguyên đơn chị Trần Huỳnh N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh H, về con chung: chị N yêu cầu được trưc tiếp nuôi dưỡng cháu K đến khi trưởng thành, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Bị đơn anh H trình bày: Do cháu K còn nhỏ nên anh muốn hàn gắn cùng chị N. Về tài sản chung và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về quan hệ pháp luật mà các bên tranh chấp: Chị N có Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật: “Tranh chấp ly hôn”. Loại tranh chấp này thuộc ngành Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy giữa chị N và anh H tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, chị N cho rằng anh H nhiều lần đánh bạc và gây nợ dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, anh chị không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cải vả. Mặc dù hai bên đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng không đạt kết quả, vợ chồng đã thật sự không còn tình cảm với nhau nên chị N có Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H. Anh H thừa nhận anh có chơi đánh bạc và gây ra nợ, nhưng vì con còn nhỏ nên anh muốn hàn gắn với chị N. Hội đồng xét xử thấy rằng quá trình Tòa án giải quyết đã nhiều lần phân tích động viên để các bên hàn gắn tình cảm, nhưng phía chị N vẫn giữ yêu cầu ly hôn, điều này chứng tỏ chị N không còn tha thiết với cuộc hôn nhân này, nếu duy trì cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân vẫn không đạt được, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh H.

Về con chung: Chị N anh H có 01 con chung tên Nguyễn Trần Trí K, sinh ngày 04/8/2013 chị N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu K đến khi trưởng thành, anh H cũng thống nhất giao cháu K cho chị N nuôi nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyễn Trần Trí K, sinh ngày 04/8/2013 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến khi trưởng thành. Do chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ kiện khác.

Về án phí: Nguyên đơn phải nộp án phí theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận Đơn khởi kiện của chị Trần Huỳnh N.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Huỳnh N ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: giao cháu Nguyễn Trần Trí K, sinh ngày 04/8/2013 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung cho anh H, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, nếu sau này có phát sinh tranh chấp tách ra giải quyết thành vụ kiện khác.

- Về án phí: Chị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 015448 ngày 14/01/2020 thành án phí xem như chị N đã nộp xong.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án.

Cỡ chữ