vanban.org

Bản án 110/2020/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 01/07/2020 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 3 Điều 229; điểm a khoản 2 Điều 241 Điều 242 của Lu t tố tụng hành chính;

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần nội dung kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M để xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N, thành phố Q (đợt 2). Chấp nh n một phần kháng cáo của bà Ngô Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Bà Ngô Thị M, sinh năm 1943; trú tại tổ 5, KV 5, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 3 Điều 229; điểm a khoản 2 Điều 241 Điều 242 của Lu t tố tụng hành chính;
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110 / 2020 /HC-PT
Ngày: 01 - 07 - 2020
V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính
trong lĩnh vực quản lý đất đai”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Long

Các Thẩm phán: Ông Phạm Việt Cường

Ông Nguyễn Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thanh Thủy là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Ân – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 07 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số136/2020/TLPT-HC ngày 17 tháng 02 năm 2020 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 65/2019/HC- ST ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 948/2020/QĐPT-HC ngày 03 tháng 06 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Bà Ngô Thị M sinh năm 1943; trú tại t 5 V 5

phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.

Ng i đ i diện theo ủy quy n của à M: Ông Phạm Đ c T sinh năm 1973; cư trú tại số nhà 09C1/10 khu phố 3 khu dân cư V đường H phường Th, Qu n , thành phố H Chí Minh (Theo iấy ủy quyền ngày 11 tháng 7 năm 2019); có mặt.

Ng i ảo vệ quy n và lợi ích hợp pháp của à Ngô Thị M: Lu t sư Trần Cao Đại ỳ Q1 hoạt động tại Công ty Lu t TNHH MTV TA, thuộc Đoàn Lu t sư tỉnh Đ ng Nai; có mặt.

2. Người bị kiện:

2.1- Ủy ban nhân dân thành phố Q tỉnh Bình Định; Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Công V1 Phó Chủ tịch UBND thành phố Q; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ( iấy ủy quyền số 17/ UQ-UBND ngày 08/8/2019)

2.2- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Q tỉnh Bình Định; Người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Công V1 Phó Chủ tịch UBND thành phố Q; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ( iấy ủy quyền số 17/ UQ-UBND ngày 08/8/2019)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1 Trung tâm Phát triển qu đất thành phố Q tỉnh Bình Định; Người đại diện theo ủy quyền là ông Đặng Phan Tiến D Phó iám đốc Trung tâm; có đơn xin xét xử vắng mặt.

3.2 Ủy ban nhân dân phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt lần 2.

3.3 Ông Lê Quang M1 sinh năm 1975; có mặt.

3.4. Bà Lê Thị Thu S sinh năm 1943.

3.5. Cháu Huỳnh Ng c H1 sinh năm 2006.

3.6. Cháu Huỳnh Thu H2 sinh năm 2012.

C ng địa chỉ: t 5 V 5 phường N, thành phố Q tỉnh Bình Định

Ng i đ i diện theo ủy quy n của à S, cháu 1 và cháu 2: Ông Phạm Đ c T sinh năm 1973; cư trú tại số nhà 09C1/10 khu phố 3 khu dân cư V đường H phường Th, Qu n TP. H Chí Minh (theo iấy ủy quyền ngày 09 tháng 9 năm 2019); có mặt.

4. Người kháng cáo: Bà Ngô Thị M.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo Đơn khởi kiện ngày 20/6/2019, Đơn khởi kiện ổ sung ngày 12/7/2019 và trong quá trình tố tụng, nội dung ng i khởi kiện trình ày:

Ngu n gốc thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 (theo bản đ năm 2017) diện tích 301 2m2 t a lạc tại phường N, thành phố Q tỉnh Bình Định (sau đây g i tắt là thửa 223) có ngu n gốc trước đây do ông Đỗ C quản lý sử dụng từ trước năm 1975 được chính quyền chế độ cũ cấp Bản trích lục địa bộ cho ông C.

Ngày 14/8/1976 ông C chuyển nhượng thửa đất 223 lại cho bà Ngô Thị M, hai bên có l p Giấy sang nhượng đất viết tay. Từ đó đến nay gia đình là chủ sở hữu quản lý sử dụng thửa đất 223 không có tranh chấp.

Khi nh n chuyển nhượng từ ông C thì trên đất đã xây dựng sẵn móng nhà. ia đình bà M tr ng rau đến năm 1990 làm nhà tạm và đến năm 2010 sửa nhà tạm thành nhà cấp 4 diện tích khoảng 40m2. Do không am hiểu pháp lu t nên gia đình bà M không xin phép nên bị UBND phường N l p biên bản vi phạm hành chính số 227/BB-VPHC ngày 20/01/2010 về việc tự ý xây dựng nhà không có giấy phép. Căn nhà này là nơi ở và sinh sống duy nhất của gia đình các con ruột và các cháu của gia đình bà M.

Ngày 07/12/2010 gia đình bà M mở quán ăn uống bình dân và dịch vụ cho thuê xe và đã được Phòng Tài chính - ế hoạch của UBND thành phố Q cấp iấy ch ng nh n đăng ký kinh doanh Hộ gia đình cá thể.

Năm 2017 gia đình làm thủ tục xin cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất thì không được chấp nh n với lý do đất quy hoạch khu dân cư.

Ngày 26/5/2017 UBND thành phố Q tỉnh Bình Định ban hành Thông báo thu h i đất số 409/TB-UBND để thực hiện công trình Khu dân cư phía Đông trụ sở phường N, thành phố Q tỉnh Bình Định. Nội dung của Thông báo là: Thu h i đất của 08 hộ gia đình cá nhân và một t ch c trong đó có thửa đất 223 của gia đình bà M.

Ngày 22/9/2017 Trung tâm phát triển qu đất thành phố Q tỉnh Bình Định (sau đây g i tắt là Trung tâm phát triển qu đất) ban hành Thông báo số 337/TB-TTPTQĐ về việc niêm yết công khai phương án b i thường hỗ trợ và tái định cư có tên của hộ gia đình Ngô Thị M và Bảng tính chi tiết giá trị b i thường thiệt hại về tài sản công trình cho hộ gia đình bà M là 138.221.765 đ ng bao g m b i thường về đất hỗ trợ về đất b i thường về v t kiến trúc b i thường về cây tr ng hỗ trợ n định đời sống.

Trung tâm phát triển qu đất xác định loại đất của thửa đất số 223 là đất tr ng cây hàng năm khác đơn giá 74.000 đ ng x 301 2m2 = 22.288.800 đ ng là không đúng vì hàng năm gia đình bà M đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước. Mỗi kỳ thuế cơ quan có thẩm quyền xác định thửa đất số 223 là đất ở tại đô thị và m c thu thuế gia đình phải đóng là m c thuế của loại đất ở tại đô thị; không có bố trí đất tái định cư cho bà.

hông đ ng ý với nội dung chỉ được b i thường về đất tr ng cây hàng năm ch không phải là đất ở đô thị và không được bố trí đất tái định cư nên gia đình bà M đã làm đơn khiếu nại gửi đến các cấp: UBND phường N Trung tâm phát triển qu đất thành phố Q và UBND thành phố Q.

Ngày 22/02/2018 UBND thành phố Q tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 874/QĐ-UBND về việc thu h i đất của hộ ông (bà) Ngô Thị M để xây dựng khu dân cư phía Đông trụ sở phường N, thành phố Q (đợt hai). Nội dung của Quyết định là thu h i thửa đất 223 của gia đình bà M. (Quyết định 874)

Ngày 21/3/2018 Chủ tịch UBND phường N, thành phố Q tỉnh Bình Định đã ban hành Quyết định số 47/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại về xác định ngu n gốc đất của bà M (lần đầu) với nội dung không công nh n nội dung khiếu nại về ngu n gốc thửa đất 223. (Quyết định 47).

hông đ ng ý với Quyết định số 47/QĐ-UBND, bà M tiếp tục khiếu nại lên UBND thành phố Q và ngày 23/8/2018 Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định ban hành Quyết định số 7456/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị M (lần hai) với nội dung không công nh n nội dung đơn của bà M yêu cầu xem xét Quyết định số 47/QĐ-UBND nói trên để bà M được b i thường theo giá đất ở giao đất tái định cư. (Quyết định 7456)

Bà M không thống nhất với Quyết định số 7456/QĐ-UBND; ngày 06/5/2019 Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định đã ban hành Quyết định số 2817 về việc cưỡng chế thu h i đất đối với hộ bà M (Quyết định 2817)

Ngày 20/6/2019 bà Ngô Thị M nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 874/QĐ-UBND về việc thu h i đất; hủy Quyết định số 7456/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại; hủy Quyết định số 2817 về việc cưỡng chế thu h i đất và công nh n thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 (theo bản đ năm 2017) diện tích 301 2m2 t a lạc tại phường N, thành phố Q tỉnh Bình Định là quyền sở hữu hợp pháp của bà M loại đất ở tại đô thị; đ ng thời được tái định cư.

- Ng i ị kiện là Chủ tịch UBND thành phố Q và UBND thành phố Q, tỉnh Bình Định, ng i đ i diện theo ủy quy n ông Nguyễn Công V1 trình ày:

1. Quá trình thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M

Tại Quyết định số 3888/QĐ-CTUBND ngày 29/5/2017 của UBND thành phố về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 công trình: hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N (phần mở rộng) thành phố Q,

Ngày 09/01/2018 Trung tâm phát triển qu đất thành phố có Tờ trình số 14/TTr-TTPTQĐ về việc thu h i đất.Theo đó Trung tâm phát triển qu đất thành phố đề nghị thu h i đất đối với 05 hộ gia đình cá nhân và 01 t ch c với t ng diện tích thu h i 3.352 6m2 của 09 thửa đất thuộc tờ bản đ số 8 thuộc phường N thành phố Q. Trong đó có hộ bà Ngô Thị M địa chỉ: t 5 khu vực 5 phường N với diện tích đề nghị thu h i là 301 2m2 thuộc toàn phần thửa đất số 223 tờ bản đ số 8 theo bản đ đo đạc hiện trạng năm 2017.

Ngày 05/02/2018 Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố có Tờ trình số 52/TTr-TNMT về việc thu h i đất của các hộ gia đình cá nhân để thực hiện dự án xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N thành phố Q - phần mở rộng (đợt 2) trong đó có hộ bà Ngô Thị M.

Trên cơ sở đề nghị của Trung tâm phát triển qu đất thành phố và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố; ngày 22/02/2018 UBND thành phố ban hành Quyết định số 874/QĐ-UBND về việc thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M để thực hiện dự án xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N thành phố Q - phần mở rộng (đợt 2) là đúng quy định.

2. Quá trình ban hành quyết định cưỡng chế thu h i đất đối với hộ bà Ngô Thị M để thực hiện dự án xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N thành phố Q (phần mở rộng:

Trên cơ sở ngu n gốc sử dụng thửa đất theo xác nh n của UBND phường N: bà Ngô Thị M khai vỡ đất hoang sử dụng tr ng rau màu sau năm 1993 trước ngày 01/7/2004. Đến năm 2010 bà M tự ý xây dựng nhà ở không có giấy phép của cấp có thẩm quyền đã bị UBND phường N l p biên bản VPHC số 227/BB-VPHC ngày 20/01/2010.

Ngày 22/02/2018 UBND thành phố ban hành Quyết định số 874/QĐ-UBND về việc thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M để xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N Thành phố Q (phần mở rộng); diện tích đất thu h i 301 2m2 loại đất bằng tr ng cây hàng năm thuộc toàn phần thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 theo bản đ đo đạt năm 2017 tại phường N.

Theo phương án được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 thì số tiền b i thường hỗ trợ cho hộ bà Ngô Thị M là 122.660.255 đ ng.

Sau khi có Quyết định thu h i đất và bảng tính chi tiết giá trị b i thường hỗ trợ bà Ngô Thị M có đơn khiếu nại liên quan đến việc b i thường PMB đối với gia đình Bà.

Ngày 21/3/2018 Chủ tịch UBND phường N ban hành Quyết định số 47/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Ngô Thị M theo đó không công nh n nội dung đơn của bà M khiếu nại về ngu n gốc đất.

Sau đó bà M tiếp tục khiếu nại; ngày 23/8/2018 Chủ tịch UBND Thành phố ban hành Quyết định số 7456/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần 2 đối với bà Ngô Thị M theo đó không công nh n nội dung đơn của bà M khiếu nại Quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND phường N.

Ngày 25/10/2018 UBND phường N đã phối hợp Mặt tr n phường N và Trung tâm phát triển qu đất thành phố v n động hộ bà Ngô Thị M - đại diện con ông Lê Quang M1 nh n tiền b i thường hỗ trợ và giao trả mặt bằng cho Nhà nước tuy nhiên hộ không thống nhất.

Ngày 05/3/2019 Trung tâm phát triển qu đất thành phố có Thông báo số 128/TB-TTPTQĐ về việc nh n tiền và giao trả mặt bằng cho Nhà nước đối với hộ bà Ngô Thị M.

Ngày 06/3/2019 UBND phường N có Báo cáo số 34/BC-UBND kết quả v n động các hộ gia đình cá nhân bị ảnh hưởng PMB thực hiện công trình hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N thành phố Q (phần mở rộng) trong đó có hộ bà Ngô Thị M.

Ngày 07/3/2019 Trung tâm phát triển qu đất thành phố có Báo cáo số 93/TTPTQĐ- PMB về việc cung cấp h sơ b i thường PMB đến Phòng Tài nguyên và Môi trường để tham mưu UBND thành phố ban hành Quyết định cưỡng chế thu h i đất các hộ dân thuộc công trình hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N thành phố Q (phần mở rộng) trong đó có hộ bà Ngô Thị M. Ngày 18/4/2019 Phòng Tài nguyên và Môi trường có Tờ trình số 212/TTr-TNMT về việc đề nghị cưỡng chế thu h i đất đối với bà Ngô Thị M.

Căn c hoản 2 Điều 11 Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 2817/QĐ-UBND ngày 06/5/2019 về việc cưỡng chế thu h i đất đối với hộ bà Ngô Thị M để PMB xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N, thành phố Q (phần mở rộng) là đúng quy định.

3. Quá trình giải quyết khiếu nại lần hai đối với bà Ngô Thị M:

Kết quả kiểm tra hồ sơ hiện có, thể hiện: Bà Ngô Thị M là hộ có đất bị thu h i trong dự án PMB hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N (phần mở rộng) thành phố Q.

Bản đồ địa chính thửa đất thu hồi của à M thể hiện:

- Bản đ 299 và s mục kê: Thửa đất số 260 tờ bản đ số 9 diện tích 315m2 loại đất lúa màu s mục kê ghi: Hoang.

- Bản đ năm 2001: Thửa đất số 72 tờ bản đ số 36 diện tích 1243 2m2, loại đất nghĩa địa h sơ k thu t thửa đất ghi tên chủ sử dụng: UBND phường.

- Bản đ đo đạc hiện trạng năm 2017: Thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 diện tích 301 2m2 loại đất bằng tr ng cây hàng năm khác h sơ k thu t thửa đất ghi tên chủ sử dụng: Ngô Thị M.

Diện tích đất thu hồi là 301,2m2/301,2m2.

Nguồn gốc thửa đất(Theo áo cáo số 189/BC-UBND ngày 21/8/2017 của UBND ph ng N)thể hiện: Bà M khai vỡ đất hoang sử dụng tr ng rau màu sau năm 1993 trước ngày 01/7/2004. Năm 2010 bà M tự ý xây dựng nhà ở không có phép của cơ quan có thẩm quyền đã bị l p Biên bản vi phạm hành chính số 227/BB-VPHC ngày 20/01/2010.

ồ sơ ồi th ng thể hiện:

V đất: bà M được b i thường đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất thu h i là 301 2m2 theo đơn giá 74.000đ/m2 và hỗ trợ chuyển đ i nghề và tạo việc làm.

V nhà: nhà bà M xây dựng năm 2010 và bị l p Biên bản vi phạm hành chính số 227/BB-VPHC ngày 20/01/2010 nên không được b i thường hỗ trợ theo quy định pháp lu t.

Hộ được hỗ trợ v t kiến trúc b i thường cây cối hoa màu và các khoản thưởng khác theo quy định pháp lu t.

Ngoài ra ông M1 có cung cấp một bản sao địa đ photo thể hiện thửa đất 410 diện tích 7 thước 02 tấc tên x là Cây é đ ng tên ông Đỗ C; một giấy nhượng đất nền nhà ở photo được viết tay không có ch ng nh n của cơ quan có thẩm quyền giữa ông Đỗ C và vợ ch ng bà M vào năm 1976; thông báo nộp thuế nhà đất và Biên lai nộp thuế năm 2014 2017 2018; h sơ xin cấp CN.QSD đất đ ng tên bà M nhưng không có xác nh n của cơ quan có thẩm quyền.

Trong quá trình xem xét giải quyết đơn của bà M liên quan đến ngu n gốc thửa đất thu h i của Bà trong dự án UBND phường N đã ban hành quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 v/v giải quyết đơn khiếu nại đối với bà M với nội dung không công nh n nội dung đơn của bà M.

Từ kết quả kiểm tra hồ sơ nêu trên, cho thấy:

- Trên cơ sở bản đ địa chính qua các thời kỳ được xác l p tại phường N cho thấy: thửa đất thu h i của bà M có ngu n gốc là đất màu và đất hoang. Đến năm 2001 bà M chưa được xác l p là chủ sử dụng thửa đất và bản đ địa chính vẫn để tên UBND phường N. Năm 2010 bà M tự ý xây dựng nhà ở trên thửa đất khi không có phép của cơ quan có thẩm quyền đã bị l p Biên bản vi phạm hành chính.

- Việc ông M1 (đại diện cho bà M) cung cấp các giấy tờ như bản sao địa đ giấy nhượng đất nền nhà ở được viết tay không có ch ng nh n của cơ quan có thẩm quyền giữa ông Đỗ C và vợ ch ng bà M vào năm 1976; thông báo nộp thuế nhà đất và Biên lai nộp thuế năm 2014 2017 2018; h sơ xin cấp iấy ch ng nh n QSD đất đ ng tên bà M nhưng không có xác nh n của cơ quan có thẩm quyền là không đủ cơ sở pháp lý để công nh n diện tích đất thu h i của bà M là đất ở.

Kết quả giải quyết khiếu n i đối với à Ngô Thị M:

Ngày 09/8/2017 UBND thành phố t ch c đối thoại với bà Ngô Thị M, ông Lê Quang M1 đại diện tham dự. Ngày 23/8/2018 Chủ tịch UBND thành phố ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cho bà M với nội dung: không công nh n nội dung đơn bà M khiếu nại yêu cầu UBND thành phố xem xét lại quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của UBND phường N để b i thường đất ở giao đất tái định cư cho Bà; Công nh n quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của Chủ tịch UBND phường N về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Ngô Thị M.

4. Nội dung bà Ngô Thị M yêu cầu công nh n thửa đất 223 tờ bản đ số 08 đo đạc năm 2017 có diện tích 301 2m2 thuộc phường N là quyền sở hữu hợp pháp của bà M loại đất là đất ở tại đô thị.

Trên cơ sở bản đ địa chính qua các thời kỳ được xác l p lưu trữ tại UBND phường N và ngu n gốc thửa đất 223 tờ bản đ số 08 đo đạc năm 2017 có diện tích 301 2m2 cho thấy: đây là thửa đất màu đất hoang. Đến năm 2001 bà M chưa được xác l p là chủ sử dụng thửa đất và bản đ địa chính vẫn để tên UBND phường N. Năm 2010 bà M tự ý xây dựng nhà ở trên thửa đất khi không có phép của cơ quan có thẩm quyền đã bị l p Biên bản vi phạm hành chính. Tại thời điểm thu h i đất bà M là người đang sử dụng đất nhưng không có giấy tờ ch ng minh quyền sử dụng hợp pháp theo quy định pháp lu t.

Do đó không đủ căn c pháp lu t để công nh n thửa đất 223 tờ bản đ số 08 đo đạc năm 2017 có diện tích 301 2m2 thuộc phường N thành phố Q là loại đất ở của bà M.

- Ng i có quy n lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Đ i diện Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Q trình ày:

Theo Báo cáo số 189/BC-UBND ngày 21/8/2017 của UBND phường N về xác nh n ngu n gốc sử dụng đất: Bà Ngô Thị M khai vỡ đất hoang sử dụng tr ng rau màu sau năm 1993 trước ngày 01/7/2004. Ngày 20/01/2010 bà M tự ý xây dựng nhà ở không có giấy phép của cấp có thẩm quyền đã bị UBND phường N l p biên bản VPHC số 227/BB-VPHC.

- Về phê duyệt phương án b i thường hỗ trợ: Tại Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND TP. Q về việc phê duyệt phương án b i thường hỗ trợ PMB dự án hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N (phần mở rộng): Hộ bà Ngô Thị M được b i thường 301 2m2 đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đ i nghề hỗ trợ nhà cửa (do bị l p biên bản xử lý VPHC); b i thường hỗ trợ v t kiến trúc cây tr ng và các khoản hỗ trợ. T ng giá trị b i thường hỗ trợ PMB là 122.660.255 đ ng.

- Về nội dung khiếu nại giao đất tái định cư: Theo Văn bản số 68/UBND-ĐCXD ngày 26/6/2018 của UBND phường N về việc xác nh n chỗ ở của bà Ngô Thị M ở tại t 7 V 5 phường N, TP. Q. Hiện tại bà M đang ở chung nhà của ông M1 tại t 5 V 5 phường N.

Áp dụng khoản 3 Điều 42 Quyết định số 13/2015/QĐ-UBND ngày 07/7/2015 “Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà n ớc thu hồi đất gắn li n với nhà ở thuộc tr ng hợp phải di chuyển chỗ ở nh ng không đủ đi u kiện đ ợc ồi th ng v đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa àn xã, ph ng, thị trấn nơi có đất thu hồi thì đ ợc Nhà n ớc án, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu ti n sử dụng đất”.

Bà M không bị thu h i đất ở hiện đang ở chung nhà với con trai là ông M1. Do đó bà M không đủ điều kiện để được giao đất tái định cư theo quy định của pháp lu t.

+ Đ i diện UBND ph ng N trình ày:

Về ngu n gốc sử dụng đất của bà Ngô Thị M: Bà M khai vỡ đất hoang sử dụng tr ng rau màu sau năm 1993 trước ngày 01/7/2004. Đến năm 2010 bà M tự ý xây dựng nhà ở không có giấy phép của cấp có thẩm quyền đã bị UBND phường N l p biên bản VPHC số 227/BB-VPHC.

Theo bản đ 299 và s mục kê: Thửa đất 260 tờ bản đ số 9 diện tích 315,0m2 loại đất lúa màu s mục kê ghi tên chủ sử dụng: Hoang.

Theo bản đ năm 2001 (đo vẽ hiện trạng sử dụng đất chưa đăng ký thống kê) Thửa đất số 72 tờ bản đ số 36 diện tích 1.243 2m2 loại đất nghĩa địa ghi tên chủ sử dụng: UBND phường.

Theo bản đ đo đạt hiện trạng năm 2017 là Thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 diện tích 301 2m2 loại đất: BH (BH : Đất bằng tr ng cây hàng năm khác) h sơ k thu t thửa đất ghi tên chủ sử dụng: Ngô Thị M.

Diện tích bị thu h i: 301 2m2/301,2m2 loại đất bằng tr ng cây hàng năm.

Ngày 21/3/2018 UBND phường N ban hành Quyết định số 47/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà M người được ủy quyền là ông M1 với nội dung không công nh n nội dung đơn của người khiếu nại liên quan đến ngu n gốc sử dụng đất vì nội dung khiếu nại không có cơ sở để xem xét giải quyết. UBND phường N đã xác nh n ngu n gốc sử dụng đất của bà M là đúng theo quy định của pháp lu t.

+ Ông Lê Văn M1 trình ày: Ông thống nhất với phần trình bày của ông T là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ngoài ra ông không có yêu cầu nào khác.

+ Ng i đ i diện theo ủy quy n của à S, cháu 1 và cháu 2, ông h m Đ c T trình ày: Ông T thống nhất như trình bày của người khởi kiện ngoài ra ông không có ý kiến nào khác.

Tại bản án hành chính sơ thẩm số: 65/2019/HC- ST ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:

- Căn c quy định tại các Điều 30; Điều 32; Điều 116; Điều 157; Điều 158; hoản 1 Điểm a hoản 2 Điều 193 và Điều 194 của Lu t Tố tụng hành chính năm 2015;

- Căn c quy định tại Lu t T ch c chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Lu t khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Lu t đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Lu t Đất đai; Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về h sơ giao đất cho thuê đất chuyển mục đích sử dụng đất thu h i đất; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Lu t khiếu nại; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Chính phủ sửa đ i b sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013; Thông tư số 60/2014/TT-BC ngày 18/11/2014 của Bộ Công an

- Căn c Điều 29 Lu t Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị M yêu cầu hủy các Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M để xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N thành phố Q (đợt 2); Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị M (lần 2); Quyết định số 2817/QĐ-UBND ngày 06/5/2019 của Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu h i đất với hộ bà Ngô Thị M để PMB xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N thành phố Q và công nh n thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 (theo bản đ năm 2017) diện tích 301 2m2 t a lạc tại phường N thành phố Q tỉnh Bình Định là quyền sở hữu hợp pháp của bà M loại đất (mục đích sử dụng) là đất ở tại đô thị.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 17 – 12 – 2020 người khởi kiện bà Ngô Thị M kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cụ thể: Công nh n thửa đất số 233, tờ bản đ 08 diện tích 301 2m2 của Bà là đất ở đô thị; hủy các quyết định g m: Quyết định 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 Quyết định 7456/QĐ-UBND ngày 23/08/2018 Quyết định số 2817/QĐ-UBND ngày 06/05/2019.

T i phiên tòa phúc thẩm: đại diện cho người kháng cáo xin rút một phần kháng cáo về yêu cầu xem xét hủy Quyết định 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q về thu h i đất; giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo khác như đơn kháng cáo đề nghị xem xét việc tái định cư vì hiện nay hộ bà M không có ch ở nên mới không bàn giao nhà đất; vì việc thu h i đất để quy hoạch khu dân cư cũng để cho dân ở nên đề nghị cho tái định cư ngay tại chỗ để hạn chế thiệt hại về nhà cửa (khi thu h i không được b i thường) và đảm bảo cho nghề buôn bán đang n định nuôi sống gia đình.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Thẩm phán Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Lu t tố tụng hành chính; về nội dung thì thực tế bà M sử dụng trên thửa đất này từ năm 1976 nhưng do không đăng ký kê khai qua các thời kỳ nên không có đủ căn c để xác định đất ở, khi thu h i đất thì bà M đang ở trên đất này và có đóng thuế đất ở, hộ bà M thuộc diện phải di chuyển ch ở khác khi thu h i đất trong khi hộ của Bà không có nhà đất nào khác tại khu vực này, đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm chấp nh n một phần kháng cáo của người khởi kiện, sửa một phần bản án sơ thẩm, hủy một phần các Quyết định hành chính có liên quan để buộc UBND thành phố Q b sung nội dung giao cho hộ bà M một lô đất ở.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn c vào các tài liệu ch ng c có trong h sơ vụ án trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính nh n thấy:

V yêu cầu khởi kiện

Ngày 20/6/2019 ngày 12/7/2019 bà Ngô Thị M có đơn khởi kiện và đơn khởi kiện b sung vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M để xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N thành phố Q (đợt 2); Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị M (lần 2); Quyết định số 2817/QĐ-UBND ngày 06/5/2019 của Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu h i đất với hộ bà Ngô Thị M để PMB xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N thành phố Q và yêu cầu công nh n thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 (theo bản đ năm 2017) diện tích 301 2m2 t a lạc tại phường N thành phố Q tỉnh Bình Định là loại đất ở đô thị thuộc quyền sử dụng của hộ bà Ngô Thị M. Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 thì lý do yêu cầu hủy là xác định đất thu h i là đất ở đô thị (ch không phải là đất tr ng cây hàng năm) và khi thu h i toàn bộ thửa đất nhưng không bố trí tái định cư.

Bản án hành chính sơ thẩm củaTòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã xem xét đầy đủ các yêu cầu khởi kiện và xác định quan hệ pháp lu t “khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” là đúng pháp lu t.

. Xét các nội dung kháng cáo:

[2. 1] Đối với Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 Bản án sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị hủy Quyết định số 874 này; tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo đã tự nguyện rút kháng cáo về nội dung yêu cầu này nên HĐXX phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm phần kháng cáo có liên quan phần quyết định bác yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp lu t.

Đối với Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 về việc giải quyết khiếu nại và đề nghị xác định thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 (theo bản đ năm 2017) diện tích 301 2m2 t a lạc tại phường N thành phố Q tỉnh Bình Định là loại đất ở tại đô thị của bà Ngô Thị M:

Xem xét về ngu n gốc thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 diện tích 301 2m2: Theo bản đ 299 và S mục kê: Thửa đất 260 tờ bản đ số 9 diện tích 315 0m2, loại đất lúa màu s mục kê ghi tên chủ sử dụng: Hoang.

Theo bản đ năm 2001 (đo vẽ hiện trạng sử dụng đất chưa đăng ký thống kê) Thửa đất số 72 tờ bản đ số 36 diện tích 1.243 2m2 loại đất nghĩa địa ghi tên chủ sử dụng: UBND phường.

Bản đ đo đạt hiện trạng năm 2017: Thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 diện tích 301 2m2 loại đất: BH (BH : Đất bằng tr ng cây hàng năm khác) h sơ k thu t thửa đất ghi tên chủ sử dụng: Ngô Thị M.

Với ngu n gốc đất được xác định theo h sơ s sách địa chính của nhà nước như trên thì do bà M không có kê khai đăng ký đất đai qua các thời kỳ thực hiện chính sách về đất đai ở địa phương không xác l p về quyền sử dụng đất nên không có căn c sử dụng đất ở. Quyết định số 47/QĐ-UBND ngày 21/3/2018 của Chủ tịch UBND phường N về việc giải quyết khiếu nại về ngu n gốc đất đối với bà M là đúng về nội dung và thẩm quyền. Do đó Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị M (lần 2) là có căn c .

Trên cơ sở h sơ s sách địa chính qua các thời kỳ được xác l p tại phường N cho thấy thửa đất thu h i của bà M có ngu n gốc trước đây là đất hoang sau này là đất màu. Đến năm 2001 bà M chưa được xác l p là chủ quyền sử dụng thửa đất và bản đ địa chính vẫn để tên UBND phường.

Năm 2010 bà M tự ý xây dựng nhà ở trên thửa đất khi không có phép của cơ quan có thẩm quyền đã bị l p biên bản vi phạm hành chính. Do không có căn c xác định mốc thời gian hộ gia đình bà M sử dụng đất để ở nên theo mốc thời gian từ năm 2010 là lúc gia đình bà M xây dựng bị l p Biên bản vi phạm.

Những tài liệu ch ng c do bên người khởi kiện cung cấp như: Bản sao địa đ giấy chuyển nhượng đất nền nhà ở được viết tay không có ch ng nh n của cơ quan có thẩm quyền giữa ông Đỗ C và vợ ch ng bà M vào năm 1976 thông báo nộp thuế đất và biên lai nộp thuế năm 2014 2017 2018 h sơ xin cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất đ ng tên bà M nhưng không có xác nh n của cơ quan có thẩm quyền là không đủ về mốc thời gian và cơ sở pháp lý để công nh n diện tích đất thửa 233 thu h i của bà M là diện tích đất ở.

Do xác định ngu n gốc và qúa trình sử dụng đất không có căn c để xác định đây là đất ở hay đất th cư nên yêu cầu công nh n thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 (theo bản đ năm 2017) diện tích 301 2m2 t a lạc tại phường N thành phố Q tỉnh Bình Định là quyền sở hữu hợp pháp của bà M loại đất (mục đích sử dụng) là đất ở tại đô thị là không có căn c .

Đối với Quyết định cưỡng chế thu h i đất số 2817/QĐ-UBND ngày 06/5/2019:

Ngày 22/02/2018 UBND thành phố Q đã ban hành Quyết định số 874/QĐ-UBND về việc thu h i đất của bà M để xây dựng khu dân cư phía Đông trụ sở phường N, thành phố Q (đợt hai).

Tại Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND Q về việc phê duyệt phương án b i thường hỗ trợ PMB dự án hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N (phần mở rộng): Hộ bà Ngô Thị M được b i thường 301,2m2 đất nông nghiệp và hỗ trợ chuyển đ i nghề hỗ trợ nhà cửa (do bị l p biên bản xử lý VPHC); b i thường hỗ trợ v t kiến trúc cây tr ng và các khoản hỗ trợ. T ng giá trị b i thường hỗ trợ là 122.660.255 đ ng.

Ngày 25/10/2018 UBND phường N đã phối hợp Ủy ban Mặt tr n phường N và Trung tâm phát triển qu đất thành phố v n động hộ bà M - Người đại diện ông M1 con bà M nh n tiền b i thường, hỗ trợ và giao trả mặt bằng cho Nhà nước tuy nhiên hộ đã không thống nhất.

Sau nhiều lần v n động nhưng bà M vẫn không chịu nh n tiền b i thường và bàn giao đất nên ngày 06/5/2019 UBND thành phố Q đã ban hành Quyết định số 2817/QĐ-UBND về việc cưỡng chế thu h i đất đối với hộ bà Ngô Thị M là đúng quy định pháp lu t.

Xem xét yêu cầu được giao đất tái định cư:

Tại Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q về việc phê duyệt phương án b i thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N (phần mở rộng): Hộ bà Ngô Thị M được b i thường 301 2m2 đất nông nghiệp và hỗ trợ khác được giá trị t ng cộng là 122.660.255 đ ng; không được giao đất tái định cư.

Tại Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch UBND thành phố Q về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị M không chấp nh n yêu cầu giao đất tái định cư của bà M với lý do hiện nay bà M đang ở với con trai Lê Quang M1.

Tuy nhiên bà Ngô Thị M có hộ khẩu riêng không liên quan với ông M1 tại thời điểm thu h i đất thì trong hộ bà M còn có bà Lê Thị Thu S, cháu Huỳnh Ng c H1 và cháu Huỳnh Thu H2 (Bl 23 24 25) đang ở đây; không liên quan gì đến hộ khẩu của ông Lê Quang M1 ở nơi khác (Bl 58 59 60). Đ ng thời nhà đất tại thửa 233 bị thu h i này cũng là nơi để gia đình bà M buôn bán và sống bằng nghề buôn bán kinh doanh này.

Tại khoản 2 Điều 79 Lu t đất đai 2015 quy định “ ộ gia đình cá nhân khi nhà n ớc thu hồi đất gắn li n với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ đi u kiện đ ợc ồi th ng v đất ở, nếu không có chổ ở nào khác thì đ ợc Nhà n ớc án, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu ti n sử dụng đất”. Tại khoản 4 Điều 6 Nghị định 47/2014 ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định nội dung tương tự đ ng thời thêm nội dung là iá đất ở tính tiền sử dụng đất khi nhà nước giao đất do UBND cấp tỉnh quy định. Như v y tại thời điểm thu h i đất hộ bà M không có chỗ ở nào khác nên mỗi người phải sống tạm vào các hộ gia đình người thân Hộ bà M có quyền có chỗ ở riêng mà không phải phụ thuộc vào hộ của ông M1, nên theo quy định trên phải giao đất ở cho hộ bà M mới đúng quy định.

Tại Quyết định 3888/QĐ-UBND ngày 29/5/2017 của Chủ tịch UBND thành phố Q về phê duyệt đ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 công trình DC phía đông trụ sở UBND phường N (phần mở rộng) thành phố Q có nội dung tại Mục 3 “T o quỹ đất ở để đấu giá quy n sử dụng đất t o nguồn thu cho ngân sách Nhà n ớc và quỹ đất ở để ố trí tái định c cho các dự án” như v y đây là công trình có dự án tái định cư tại ch , nên cần ưu tiên giao đất cho hộ bà M tại ch và có vị trí thu n lợi cho kinh doanh để Hộ gia đình Bà nhanh chóng n định cuộc sống.

Từ những căn c trên và theo ý kiến đề nghị hợp lý của iểm sát viên tại phiên tòa; HĐXX phúc thẩm thấy cần phải sửa một phần án sơ thẩm hủy một phần quyết định Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch UBND thành phố Q về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị M và hủy một phần quyết định hành chính có liên quan là Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q về việc phê duyệt phương án b i thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án hu dân cư phía Đông trụ sở UBND phường N (phần mở rộng): để buộc b sung phương án giao 01 lô đất ở tại ch (công trình DC phía Đông trụ sở UBND phường N phần mở rộng) có thu tiền sử dụng đất theo giá do UBND tỉnh Bình Định quy định cho hộ bà Ngô Thị M.

V án phí hành chính: do sửa án sơ thẩm nên án phí hành chính sơ thẩm được tính lại cả bà M và Chủ tịch UBND thành phố Q đều phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 200.000 đ ng do bà M là người cao tu i có đơn xin nên được miễn nộp. Về án phí hành chính phúc thẩm bà Ngô Thị M không phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 3 Điều 229; điểm a khoản 2 Điều 241 Điều 242 của Lu t tố tụng hành chính;

1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần nội dung kháng cáo yêu cầu hủy Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M để xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N, thành phố Q (đợt 2).

2. Chấp nh n một phần kháng cáo của bà Ngô Thị M và sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 65/2019/HC- ST ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 của Lu t Tố tụng hành chính; Điều 71, khoản 2 Điều 79 Lu t đất đai 2015.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị M yêu cầu hủy các Quyết định số 874/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc thu h i đất của hộ bà Ngô Thị M để xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N thành phố Q (đợt 2); Quyết định số 2817/QĐ-UBND ngày 06/5/2019 của Chủ tịch UBND thành phố Q tỉnh Bình Định về việc cưỡng chế thu h i đất với hộ bà Ngô Thị M để giải phóng mặt bằng xây dựng hu dân cư phía Đông trụ sở phường N thành phố Q và yêu cầu xác định thửa đất số 223 tờ bản đ số 08 (theo bản đ năm 2017) diện tích 301 2m2 t a lạc tại phường N thành phố Q tỉnh Bình Định là loại đất ở đô thị thuộc quyền sử dụng của bà Ngô Thị M.

Hủy một phần Quyết định số 7456/QĐ-UBND ngày 23/8/2018 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Q về việc giải quyết khiếu nại của bà Ngô Thị M và hủy một phần Quyết định số 869/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của Ủy ban nhân dân thành phố Q về việc “phê duyệt ph ơng án ồi th ng, hỗ trợ giải phóng mặt ằng dự án Khu dân c phía Đông trụ sở UBND ph ng N (phần mở rộng) thành phố Q (đợt 2), để buộc b sung phương án: giao 01 lô đất ở tại ch (công trình DC phía Đông trụ sở UBND phường N phần mở rộng) có thu tiền sử dụng đất theo giá do UBND tỉnh Bình Định quy định cho hộ bà Ngô Thị M.

3. Về án phí: Bà M được miễn nộp án phí hành chính sơ thẩm; Chủ tịch UBND thành phố Q phải chịu án phí hành chính sơ thẩm là 300.000 đ ng. Án phí hành chính phúc thẩm bà M không phải chịu hoàn trả lại cho bà M số tiền tạm ng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đ ng theo biên lai thu số 0003768 ngày 25/12/2019 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định.

4. Các quyết định khác còn lại của Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp lu t từ ngày hết thời hiệu kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ