vanban.org

Bản án 110/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 26/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Thanh Tr phạm tội “Trộ m cắ p tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điề u 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễ n Thanh Tr - 01 (mộ t) năm tù. Thờ i hạn chấ p hà nh hì nh phạ t tù của bị cáo được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung là … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tanh Tr - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Thanh Tr phạm tội “Trộ m cắ p tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2018/HS-ST.
Ngày: 26-11-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngụy Mộng Cầm.

Ông Nguyễ n Tù ng Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bả o - Thư ký Tò a á n nhân dân thà nh phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Hoài Bảo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 106/2018/TLST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễ n Thanh Tr, sinh năm 1979 tại Vĩnh Long.

Nơi cư trú: Số nhà 278, đườ ng P, Phườ ng C, thành phố V , tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việ t Nam; con ông Nguyễ n Văn L (chế t) và bà Trầ n Thị H (chế t); bị cáo chưa có vợ, con con; tiền án 01 lầ n năm 2009, về hà nh vi trộ m cắ p tài sản (đã đượ c xó a á n tí ch), tiền sự: Không có ; nhân thân: Có tiền án đã đượ c xó a á n tí ch ; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ

ngày 21/8/2018 đến nay, bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Vũ Đức H, sinh năm 1971, nơi cư trú :khóm TN, thị trấn C, tỉnh Trà Vinh, vắ ng mặ t.

- Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977, nơi cư trú : Số nhà 14, đườ ng N , Phườ ng H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, vắ ng mặ t.

2. Anh Nguyễ n T uấn T, sinh năm 1985, nơi cư trú : Số nhà 1A, đườ ng N , Phườ ng H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễ n Thanh Tr là nhân viên phục vụ cho quán nhậu 27, đị a chỉ số 27, Khóm M, Phườ ng C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Vào lúc 01 giờ , ngày 17/6/2018 trong lú c dọ n v ệ sinh quá n Tr có nhặt được mộ t cái Bóp màu đen củ a anh Vũ Đứ c H do nhậ u tại quán làm rớt lại , Tr kiể m tra bên trong Bó p có số tiề n 300.000 đồ ng; 07 thẻ ATM, trong đó có 02 thẻ ATM của Ngân hà ng BIDV mang tên Lê Thị D có ghi sẵn mã pin cùng thẻ man g tên Vũ Đứ c H trùng với tên in trên giấy Chứng minh nhân dân , các giấy tờ mang tên Vũ Đức H gồ m 01 Chứ ng minh nhân dân , 01 Giấ y phé p lá i xe , 01 thẻ Bảo hiểm y tế và 01 Giấ y chứ ng nhậ n đăng ký xe môtô biể n kiể m soá t số 84E-171.21, khi thấ y các giấy tờ nêu trên Tr nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền 300.000 đồ ng và số tiề n trong tà i khoản 02 thẻ ATM mang tên Lê Thị D, Vũ Đức H.

Đế n khoả ng 06 giờ 30 phút, ngày 17/6/2018 Tr đến trụ ATM củ a Ngân hà ng BIDV tạ i đườ ng H, Phườ ng H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long dùng thẻ ATM mang tên Lê Thị D để rút tiền nhưng mã pin không đúng nên không rút được , sau đó Tr dùng ATM mang tên Vũ Đức H tra vào nhập thử mã pin 271177 là ngày tháng và hai số cuố i củ a năm sinh trên giấ y Chứ ng minh nhân dân mang tên Vũ Đứ c H thì đú ng mã pin củ a thẻ nên má y ATM cho giao dị ch, qua cá c lầ n nhậ p lệ nh rú t tiề n Tr đã lấ y đượ c 8.000.000 đồ ng, thì máy ATM thông báo không rút được nữa , nên Tr tiế p tụ c đế n trụ ATM trên đườ ng L, Phườ ng M, thành phố V , tỉnh Vĩnh Long rút đượ c số tiề n 9.400.000 đồ ng thì má y thông bá o không rú t đượ c nữ a nên Tr về nhà . Đế n khoả ng 13 giờ ngà y 17/6/2018 Tr đến nhà chị ruột là Nguyễn Thị Đ chơi, tại đây Tr nhờ chị Đ rút thẻ ATM dùm nhưng chị Đ không biế t sử dụ ng, nên chị Đ có nhờ Nguyễ n Tuấn T rút tiền dùm cho Tr đượ c 27.000.000 đồ ng, khi rú t tiề n xong T đượ c chị Đ cho 1.000.000 đồ ng, Tr cũng đồng ý và Tr còn cho chị Đ 2.000.000 đồ ng. Sau đó , Tr vứ t bỏ 02 thẻ ATM vào thùng rác công cộng ven đường , đến chiề u ngày 17/6/2018 vợ anh H là chị Nguyễn Thị D có đến tì m cá i Bó p thì Tr lấ y ra trả lạ i nhưng bên trong không cò n thẻ ATM.

Đế n ngà y 19/6/2018 anh H kiể m tra số tiề n trong tà i khoả n thì phá t hiệ n mấ t 44.400.000 đồ ng, nên đã trì nh bá o vớ i Công an Phườ ng C, thành phố V. Nhậ n đượ c tin bá o, Công an Phườ ng C, thành phố V kế t hợ p vớ i Cơ quan Cả nh sá t điề u tra Công an thà nh phố V xác minh sàn lọc đối tượng , kế t quả xác minh , lự c lượ ng Công an mờ i Nguyễ n Thanh T r đến Trụ sở để làm việc , qua lấ y lờ i khai và quá trình điều tra Tr thừ a nhậ n toà n bộ hà nh vi trộ m cắ p, tổ ng số tiề n mà Tr chiế m đoạ t của anh H là 44.700.000 đồ ng

Quá trình điều tra đã thu hồ i đượ c số tiề n 22.300.000 đồ ng và đã trả lạ i tài sản cho bị hại xong, còn lại số tiền 22.400.000 đồ ng Tr tiêu xà i hế t không thu hồ i đượ c, nhưng anh H không yêu cầ u Tr bồ i thườ ng và cũng không yêu cầ u xử lý hì nh sự đố i vớ i Tr.

Đối với Nguyễn Thị Đ và Nguyễn T uấn T khi Tr nhờ rú t tiề n không biế t là thẻ do Tr nhặ t đượ c củ a ngườ i khá c và đã nộ p lạ i số tiề n , nên Cơ quan điề u tra không đề cậ p xử lý .

Tại bản cáo trạng số: 107/CT-VKSND-TPV ngày 30/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, đã truy tố bị cáo Nguyễ n Thanh Tr về tội “Trộ m cắ p tài sản'' theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi bị cá o nghe Kiể m sá t viên đọ c xong Cá o trạ ng bị cá o không có ý

kiến gì và đồng ý với nội dung Cá o trạ ng mà Việ n kiể m sá t nhân dân thành phố V đã truy tố đố i vớ i bị cá o về tội “Trộ m cắ p tài sản”.

Bị hại là ông H có đơn xin vắ ng mặ t phiên tò a, trong đơn ông có nêu: Không yêu cầu trá ch nhiệ m dân sự đố i vớ i bị cá o và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đ vắng mặt tạ i phiên tò a nhưng đã có lời khai tạ i cơ quan điề u tra , ông T có lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điề u tra.

Sau khi nghe lờ i trì nh bà y củ a bị cá o và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa. Quan điể m củ a Kiể m sá t viên tạ i phiên tò a là giữ nguyên quan điể m truy tố bị cá o theo Cá o trạ ng số : 107/CT-VKSND-TPV ngày 30/10/2018 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Nguyễ n Thanh Tr về tội “Trộ m cắ p tài sản'' theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khi luận tội xong, Kiể m sát viên đề nghị phạt bị cáo từ 01 năm đế n 01 năm 06 tháng tù theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo , về phầ n dân sự Kiể m sá t viên đề nghị không giả i quyế t vì bị hạ i không cò n yêu cầ u.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông T) không có ý kiến tham gia tranh luận.

Kế t thú c phầ n tranh luậ n, bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử xem xét giả m nhẹ hình phạt cho bị cáo”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo và ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự : “Ngườ i nà o trộ m cắ p tà i sả n củ a ngườ i khá c có giá trị từ 2.00.000 đồ ng đế n dướ i 50.000.000 đồ ng hoặ c dướ i 2.000.000 đồ ng nhưng thuộc mộ t trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặ c bị phạ t tù từ 06 tháng đến 03 năm. Bị cáo Tr có hành vi dùng thẻ ATM của người khác rút tiền , xâm phạ m trự c tiế p đến tài sản của bị hại , số tiề n bị cá o lấ y đượ c là 44.700.000 đồ ng, hành vi của bị cáo Tr đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộ m cắ p tài sản”.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứ ng cứ thu thậ p đượ c trong quá trì nh điề u tra , phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan . Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Nguyễ n Thanh Tr về tội “Trộ m cắ p tài sản'' theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị cáo cố ý xâm phạm đế n tà i sả n củ a ngườ i khá c đượ c phá p luậ t bả o vệ , bị cáo đã dù ng thẻ ATM của anh H , lén rút tiền của bị hại , tài sản mà bị cáo xâm hại đượ c xá c đị nh là 44.700.000 đồ ng. Ý thức của bị cáo biết rõ hành vi nêu trên là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo cố tình thực hiện làm cho hậu quả xãy ra , bị cáo có đủ năng lực về nhận thức cũng như điều khiển hành vi của bị cáo , nên bị cáo phải chịu hình phạt do hành vi của bị cáo đã gây ra . Do vậ y , hành vi của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội và góp phần ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, cầ n phả i á p dụ ng hì nh phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định theo quy định tại Điều 38 của Bộ luậ t Hì nh sự , để cho bị cáo có thời gian học tập , cải tạo và trở thành ngườ i công dân có í ch cho xã hộ i sau nà y.

Xét về nhân thân của bị cáo , hiện tại bị cáo không có tiền án, không có tiền sự. Tuy nhiên, trước đây bị cáo từng có bị phạt tù về hành vi “Trộ m cắ p tài sản” từ đó cho thấy nhân thân của bị cáo không tốt, bị cáo đã được cải tạo, giáo dục nhưng không sửa đổi , nhưng khi phạ m tộ i trong quá trình điều tra cũ ng như tạ i phiên tòa bị cá o đã thậ t thà khai bá o , ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi mộ t phầ n trả cho bị hại xong, bị hại xin giả m nhẹ hì nh phạ t cho bị cá o , gia đì nh bị cá o (ông Nộ i) tham gia cá ch mạ ng đượ c khen thưở ng , phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọ ng, bị cáo bị nhiễm HIV , nên có căn cứ cho bị cá o hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ nhữ ng căn cứ nêu trên , xét thấy Kiể m sá t viên đề nghị phạ t bị cá o từ 01 năm đế n 01 năm 06 tháng tù theo tộ i danh, điề u luậ t mà Cá o trạ ng đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở , nên Hội đồng xét xử chấ p nhậ n và sẽ xem xét , quyế t đị nh á p dụng hình phạt cụ thể cho bị cáo trong phần hình phạt . Đồng thời, việ c đề nghị củ a Kiể m sá t viên về phầ n dân sự là phù hợ p, nên Hộ i đồ ng xé t xử chấ p nhậ n.

Về hì nh phạ t bổ sung , theo quy định tạ i khoả n 5 Điề u 173 của Bộ luật Hình sự quy định “Ngườ i phạ m tộ i cò n có thể bị phạ t tiề n từ 5.000.000 đồ ng đến 50.000.000 đồ ng”, do đó , bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền . Tuy nhiên, theo cá c tà i liệ u, chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n đượ c kiể m tra tạ i phiên tò a cho thấ y bị cá o không có nghề nghiệ p , không có thu nhậ p, không có tà i sả n nà o khác. Nên Hộ i đồ ng xé t xử không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung là phạ t tiề n đố i vớ i bị cáo.

Về trá ch nhiệ m dân sự , bị hại không yêu cầ u bị cáo bồi thường thiệt hại đố i vớ i số tiề n không thu hồ i đượ c, nên không giả i quyế t.

Về vật chứng, Cơ quan điều tra đã xử lý xong tạ i giai đoạ n điề u tra , nên không đề cậ p xử lý tạ i phiên tò a.

Bị cáo còn phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiề n 200.000 đồ ng, theo quy định tại điể m a khoả n 1 Điề u 23 Nghị quyết số : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ; khoản 2 Điề u 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễ n Thanh Tr phạm tội “Trộ m cắ p tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điề u 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễ n Thanh Tr - 01 (mộ t) năm tù. Thờ i hạn chấ p hà nh hì nh phạ t tù của bị cáo được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về trách nhiệm nộp á n phí:

Áp dụng khoản 2 Điề u 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luậ t Tố tụng hình sự và điể m a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộ c bị cá o Nguyễ n Thanh Tr phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngà n đồ ng) tiề n á n phí hì nh sự sơ thẩ m.

3. Về quyề n khá ng cá o:

Bị cáo và ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan (bà Đ) vắ ng mặ t có quyền kháng cáo trong thờ i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c bả n á n đượ c niêm yế t theo quy đị nh củ a phá p luậ t.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhậ n:

Cỡ chữ