vanban.org

Bản án 110/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 25/09/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

Sửa một phần bản án sơ thẩm: 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quốc P,

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Quoc P - Trom cap tai san - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2018/HS-PT
Ngày 25 tháng 9 năm 2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Trung.

Các Thẩm phán:

- Ông Nguyễn Tuấn Long;

- Bà Lâm Vương Mỹ Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Biên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh

Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Võ Khôi Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét

xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 123/TLPT-HS ngày 26

tháng 7 năm 2018, đối với bị cáo Phạm Quốc P do có kháng cáo của bị cáo và

kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đối với bản án hình sự sơ

thẩm số 128/2018/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành

phố N, tỉnh Khánh Hòa.

Bị cáo có kháng cáo và được kháng nghị:

Phạm Quốc P, sinh năm: 1996, tại: Khánh Hòa; nơi cư trú: Thôn M, xã N,

thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12;

dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông

Phạm Ngọc Đ và bà Nguyễn Thị H; chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Phạm Quốc P là nhân viên quán bia V (số A10 Chung cư H, phường V,

thành phố N, tỉnh Khánh Hòa).

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 11 tháng 02 năm 2018, sau khi dọn dẹp quán

xong, P đi lên phòng nghỉ dành cho nhân viên của quán để dọn tư trang chuẩn bị nghỉ tết. Khi mở tủ tư trang chung của nhân viên quán, thấy một túi nilon bên trong có một chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37 màu trắng hồng của chị Đỗ Thị Kim L – cũng là nhân viên của quán, P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. P nói với cháu H (con của chủ quán) đang ngồi coi phim trong phòng ra ngoài để mình thay quần áo. Sau khi H ra ngoài, P mở túi nilon của chị Liên lấy điện thoại đưa đi cầm cố ở tiệm cầm đồ số 26 đường B, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa được 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng). P dùng 840.000 đồng (tám trăm bốn mươi nghìn đồng) để chuộc lại chiếc điện thoại hiệu Samsung A5 mà trước đó P đã cầm cố tại đây, số tiền còn lại P tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 69/HĐĐG ngày 13 tháng 02 năm 2018

của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của thành phố N kết luận: Chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A37 có giá trị 3.191.300 đồng (ba triệu một trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm đồng).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 128/2018/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2018,

Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; các Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51

của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quốc P,

- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc P 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật

chứng, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 13 tháng 6 năm 2018, bị cáo Phạm Quốc P kháng cáo đề nghị Tòa án

cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại Quyết định kháng nghị số 857/QĐ-VKS-P7 ngày 04 tháng 7 năm 2018,

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa kháng nghị bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại các Điểm h Khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo Phạm Quốc P được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, cho bị cáo được hưởng án treo.

- Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Kháng cáo của bị cáo Phạm Quốc P và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân

dân tỉnh Khánh Hòa được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được xem xét

theo thủ tục phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh

Khánh Hòa:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Quốc P đã khai nhận những hành vi

mà bị cáo đã thực hiện đúng như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù

hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu

thập. Như vậy, đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 11 tháng 02 năm 2018, tại quán bia V (số A10 Chung cư H, phường

V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa), Phạm Quốc P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt

của chị Đỗ Thị Kim L một điện thoại di động hiệu OPPO A37 có giá trị 3.191.300

đồng (ba triệu một trăm chín mươi mốt nghìn ba trăm đồng). Hành vi đó của bị cáo

đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở

hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an. Do đó, cấp sơ thẩm phạt bị cáo

06 (sáu) tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, xem xét toàn diện vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Ngoài

các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51

của Bộ luật Hình sự mà cấp sơ thẩm đã áp dụng, còn có tình tiết giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự khác mà cấp phúc thẩm thấy cần áp dụng thêm cho bị cáo, đó là: Tài

sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 51

của Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ

thể, rõ ràng. Do đó, không cần cách ly xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng

nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; Điểm b Khoản 1 và Khoản 2 Điều 355; Điểm e Khoản

1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự,

1. Sửa một phần bản án sơ thẩm:

- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; các Điểm b, h, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều

51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Quốc P,

- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc P 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo được hưởng án

treo, về tội “Trộm cắp tài sản”; thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày

tuyên án phúc thẩm (ngày 25 tháng 9 năm 2018).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ

02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Phạm Quốc P cho Uỷ ban nhân dân xã N, thị xã N, tỉnh Khánh

Hòa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Phạm Quốc P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo

quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Bị cáo Phạm Quốc P không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 25

tháng 9 năm 2018).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ