vanban.org

Bản án 110/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2018/HNGĐ–ST
Ngày: 13 - 11 - 2018
V/v tranh chấp: “Ly hôn, tranh
chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Lan.

Bà Trần Thị Kim Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Sương - Thư ký Tòa án nhân dân huyê ên Xuân Lô êc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyê ên Xuân Lô êc: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại Hô êi trường xét xử, Tòa án nhân dân huyê ên Xuân Lô êc xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 431/2018/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/2018/QĐST-HPT ngày 24/10/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Mỹ L - sinh năm: 1985.

- Bị đơn: Anh Trần Công H - sinh năm: 1975.

Cùng địa chỉ: Ấp 3, xã C, huyê ên X, tỉnh Đồng Nai.

(Chị L, anh H vắng mă êt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 27/7/2018, trong quá trình làm viê êc, nguyên đơn chị Phạm Thị Mỹ L trình bày: Trên cơ sở tự nguyê ên, chị và anh Trần Công H chung sống với nhau từ năm 2000, đến năm 2010, anh chị mới đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyê ên X, tỉnh Đồng Nai. Trước đó chị chưa có chồng, anh H chưa có vợ.

Quá trình chung sống anh chị không có hạnh phúc, thường xảy ra bất hòa, mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, anh H không tôn trọng chị, thường chửi mắng, xúc phạm chị và ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng cãi vã, gây gổ. Anh chị không còn chung sống với nhau từ tháng 10/2015 đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai. Nhâ ên thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Hải.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung, tên Trần Phạm H N, sinh ngày 02/6/2001, Trần Phạm Thảo N, sinh ngày 15/4/2003 và Trần Trung N, sinh ngày 27/02/2005, từ trước đến nay các con sống với anh H. Chị đồng ý giao 03 con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, chị không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, chị không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, chị không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình làm viê êc, bị đơn anh Trần Công H: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng và triê êu tâ êp anh H nhiều lần, nhưng anh H vẫn vắng mă êt nên không có lời khai.

NHÂÂN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liê êu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hô êi đồng xét xử nhâ ên định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Công H đã được Tòa án triê êu tâ êp hợp lê ê tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng vẫn vắng mă êt không có lý do, chị Phạm Thị Mỹ L có đơn xin xét xử vắng mă êt, nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bô ê luâ êt tố tụng dân sự xét xử vắng mă êt chị L, anh H tại phiên tòa là phù hợp.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Mỹ L, anh Trần Công H tự nguyê ên chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2010, tại UBND xã C, huyê ên X, tỉnh Đồng Nai, theo quy định pháp luâ êt nên hôn nhân của anh chị được pháp luâ êt thừa nhâ ên và bảo vê ê.

Xét yêu cầu ly hôn của chị L nhâ ên thấy: Sau khi kết hôn, anh chị chung sống không có hạnh phúc, thường xảy ra bất hòa, mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, anh H không tôn trọng chị, thường ghen tuông vô cớ dẫn đến vợ chồng cãi vã, gây gổ, nay mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai; tại biên bản xác minh ngày 31/7/2018 thể hiện giữa anh H và chị L có phát sinh mâu thuẫn, anh chị không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị L, anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại Điều 89 Luâ êt Hôn nhân và gia đình năm 2000.

[3] Về con chung: Chị L đồng ý giao cháu Trần Phạm H N, sinh ngày 02/6/2001, Trần Phạm Thảo N, sinh ngày 15/4/2003 và Trần Trung N, sinh ngày 27/02/2005 cho anh H nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xét thấy, cả 03 con chung từ trước đến nay ở với anh H và đều có nguyện vọng ở với cha, nên giao các cháu Trần Phạm H N, Trần Phạm Thảo N và Trần Trung N cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luâ êt hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị L trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[4] Trong vụ kiê ên này, anh H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triê êu tâ êp đến Tòa án làm viê êc nhiều lần nhưng anh H vẫn cố tình vắng mă êt không có lý do và vắng mă êt tại phiên tòa hôm nay nên không có lời khai, nếu sau này anh H có yêu cầu về chia tài sản chung thì giải quyết bằng vụ án khác.

[5] Về án phí: Chị L phải nô êp số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Ý kiến của Viê ên kiểm sát: - Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hô êi đồng xét xử đã chấp hành đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luâ êt. Chị L thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng; anh H không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

- Về nô êi dung vụ án: Đề nghị chấp nhâ ên yêu cầu khởi kiê ên của chị L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 28, 35, 39, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhâ ên yêu cầu khởi kiê ên của chị Phạm Thị Mỹ L.

Chị Phạm Thị Mỹ L được ly hôn với anh Trần Công H.

2. Về con chung: Giao các cháu Trần Phạm H N, sinh ngày 02/6/2001, Trần Phạm Thảo N, sinh ngày 15/4/2003 và Trần Trung N, sinh ngày 27/02/2005, cho anh Trần Công H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao đô êng.

Về cấp dưỡng nuôi con: không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.

3. Về án phí: Chị Phạm Thị Mỹ L phải nô êp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 003157 ngày 27/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

Chị Phạm Thị Mỹ L, anh Trần Công H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhâ ên được bản án hoă êc niêm yết. Nơi nhâ ân:

Cỡ chữ