vanban.org

Bản án 11/HNGĐ-ST — Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về áp dụng Điều luật:

Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận đơn yêu cầu của anh Vũ Văn Hà; xử cho Anh Vũ Văn Hà được ly hôn với chị Bùi Thị Hồng Phượng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Văn H - Bùi Thị Hồng Phg"
  • Tòa quyết gì? Về áp dụng Điều luật:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC T
TỈNH HÒA B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2020/HNGĐ - ST
Ngày: 04/11/2020
(V/v: tranh chấp ly hôn)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Lan H

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Lê Đắc T;

- Ông Đinh Công Th.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu H, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Th, tỉnh Hòa B.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị M, Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Th, tỉnh Hòa B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2020/TLST- HNGĐ ngày 27/05/2020, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/9/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2020/QĐST - HNGĐ ngày 16/10/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Vũ Văn H, sinh năm 1983 (có mặt).

- Bị đơn: Chị Bùi Thị Hồng Ph, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: thôn Phú B, xã Phú Lão (nay là xã Phú Ngh), huyện Lạc Th, tỉnh Hòa Bình

- Người làm chứng:

1/ Bà Phạm Thị Hân, sinh năm 1948 (vắng mặt).

Địa chỉ: Phú Bình, xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa), Lạc Thủy, Hòa Bình.

2/ Bà Vũ Thị Nghê, sinh năm 1951 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn Bột, Phú Thành, Lạc Thủy, Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng như tại phiên toà, nguyên đơn anh Vũ Văn Hà yêu cầu Toà án giải quyết nội dung sau đây:

Về quan hệ hôn nhân: anh Vũ Văn Hà kết hôn với chị Bùi Thị Hồng Phượng năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa), huyện Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình. Trước khi kết hôn hai bên tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau lễ cưới, anh Hà và chị Phượng về chung sống tại ngôi nhà của bố mẹ đẻ anh Hà tại thôn Phú Bình, xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa). Cuộc sống chung vợ chồng bình thường, đã sinh được một con trai.

Đến khoảng năm 2015 thì vợ chồng thống nhất chị Phượng đi làm ăn xa để trang trải kinh tế gia đình nhưng từ đó chị Phượng dần dần ít về làm cho cuộc sống vợ chồng trở nên căng thẳng và hiện tại vợ chồng sống ly thân. Anh Hà và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để chị Phượng chú trọng, quan tâm cuộc sống gia đình, cùng nhau nuôi dạy con, phát triển kinh tế nhưng chị Phượng vẫn không quan tâm đến gia đình. Anh Hà thấy cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm nên đã nói chuyện với chị Phượng về việc ly hôn thì chị Phượng bảo tùy theo ý kiến anh Hà và không về để giải quyết. Do vậy anh Hà có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình giải quyết cho anh Hà được ly hôn với chị Bùi Thị Hồng Phượng để sớm ổn định cuộc sống.

Về con chung: anh Hà và chị Phượng có 01 con chung tên là Vũ Hải Đăng, sinh ngày 17/8/2007. Từ nhỏ con chung của anh chị ở với anh Hà và do anh Hà chăm sóc, nuôi dạy; khi ly hôn anh Hà có nguyện vọng tiếp tục nuôi dạy con và chưa yêu cầu chị Phượng cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: anh Hà và chị Phượng không có tài sản chung.

Về công nợ chung: anh Hà và chị Phượng không có nợ chung.

Đối với bị đơn chị Bùi Thị Hồng Phượng: Toà án đã triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng chị Phượng không đến để giải quyết vụ việc ly hôn. Tòa án cũng đã xác minh ở địa phương, gia đình anh Hà, chị Phượng cư trú thể hiện nội dung hiện tại chị Phượng đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có liên lạc thăm hỏi con qua hình thức liên lạc mạng điện tử.

Ý kiến của đại diện VKS tham gia phiên toà:

- VÒ thñ tôc tè tông: ThÈm ph¸n, Héi ®ång xÐt xö trong qu¸ tr×nh thô lý gi¶i quyÕt vô kiÖn vµ t¹i phiªn tßa h«m nay ®· thùc hiÖn ®óng chøc n¨ng nhiÖm vô, tu©n thñ c¸c quy ®Þnh cña Bé luËt tè tông d©n sù. Việc xét xử vắng mặt chị Phượng và đương sự khác, đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ theo đúng quy định tại Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Néi dung vô ¸n:

+ Về quan hệ hôn nhân: xét thấy anh Hà và chị Phượng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đÒ nghÞ Héi ®ång xÐt xö ¸p dông §iÒu 51, 56 LuËt Hôn nhân và gia đình n¨m 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và gi¶i quyÕt cho anh Vò V¨n Hµ ® îc ly h«n víi chị Bùi Thị Hồng Phượng.

+ Về con chung: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, giữ nguyên tình trạng con chung như hiện nay, giao con chung Vũ Hải Đăng, sinh ngày 17/8/2007 cho anh Vũ Văn Hà nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác. Ghi nhận ý kiến của anh Hà chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: anh Hà khai không có, không yêu cầu giải quyết, chị Phượng không đến Toà án để giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này mà giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác theo quy định của pháp luật khi có yêu cầu.

+ Về công nợ chung: hiện tại anh Hà khai không có nên không đề cập.

+ Về án phí: đề nghị thu án phí ly hôn theo quy định của pháp Luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; HĐXX nhận định:

[1] Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Anh Vũ Văn Hà xin ly hôn với chị Bùi Thị Hồng Phượng, cả hai anh chị cùng có hộ khẩu và địa chỉ tại thôn Phú Bình, xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa), huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa anh Vũ Văn Hà và chị Bùi Thị Hồng Phượng kết hôn năm 2006, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Phú Lão (nay là xã Phú Nghĩa), huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình.

Quan hệ hôn nhân giữa anh Hà và chị Phượng là hoàn toàn tự nguyện, tiến bộ và hợp pháp. Trong thời gian chung sống, từ khoảng 2015 vợ chồng mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Chị Phượng đi làm ăn xa ít về. Anh Hà và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo để chị Phượng chú trọng, quan tâm cuộc sống gia đình cùng nhau nuôi dạy con, phát triển kinh tế nhưng chị Phượng vẫn không quan tâm đến gia đình. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau nên anh Hà làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy giải quyết cho anh Hà được ly hôn với chị Phượng. Yêu cầu khởi kiện của anh Hà là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống hôn nhân của anh Hà, chị Phượng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hà.

Về con chung: anh Hà và chị Phượng có 01 con chung tên là Vũ Hải Đăng, sinh ngày 17/8/2007. Từ nhỏ con chung của anh chị ở với anh Hà và do anh Hà chăm sóc, nuôi dạy; khi ly hôn anh Hà có nguyện vọng tiếp tục nuôi dạy con và chưa yêu cầu chị Phượng cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết tại Tòa án, con chung của anh chị cũng có nguyện vọng ở với bố đẻ là anh Hà. Do vậy, nên giao con chung tên Vũ Hải Đăng, sinh ngày 17/8/2007 cho anh Hà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trưởng thành hoặc có thay đổi khác là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: anh Hà chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Về tài sản chung, công nợ chung: đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

Về án phí: anh Vũ Văn Hà phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về áp dụng Điều luật:

Áp dụng Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật TTDS; căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229 Bộ luật TTDS; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;

2. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận đơn yêu cầu của anh Vũ Văn Hà; xử cho

Anh Vũ Văn Hà được ly hôn với chị Bùi Thị Hồng Phượng.

3. Về con chung: Giao con chung của anh Hà và chị Phượng tên là Vũ Hải Đăng, sinh ngày 17/8/2007 cho bố đẻ là anh Vũ Văn Hà trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành hoặc có thay đổi khác.

Chị Phượng được quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Hà chưa yêu cầu.

4. Về án phí: Anh Vũ Văn Hà phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)

tiền án phí ly hôn sơ thẩm và được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003124 ngày 27/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để xét xử theo trình tự phúc thẩm; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Cỡ chữ