- Tranh chấp gì? "Hà Văn T - Cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1.
- Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 11/2026/QĐ-TA | Thái Nguyên, ngày 30 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán – Chủ trì phiên họp: Ông Bảo Thanh Toàn
2. Thư ký phiên họp: Bà Vy Thị Hoài Nụ – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 11/2026/QĐ-TA ngày 29 tháng 6 năm 2026 đối với:
Họ và tên: Hà Văn T1; Giới tính: Nam; sinh ngày 11 tháng 10 năm 1977; Số CCCD: 006077002226; Ngày cấp: 24/6/2021; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Nguyên quán: Phường Đ, tỉnh Thái Nguyên; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Tiền án: Không; Tiền sự: 01; Nhân thân xấu; Con ông Hà Văn B (đã chết) và bà Hoàng Thị X (Có mặt).
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Vũ Đình D - Phó Trưởng Công an phường Đ, tỉnh Thái Nguyên (Theo Quyết định uỷ quyền ngày 29 tháng 6 năm 2026 của Trưởng công an phường Đ, tỉnh Thái Nguyên) (Có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên: Bà Trương Thị Thắm – Kiểm sát viên (Có mặt).
NHẬN THẤY:
Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 thể hiện:
Hà Văn T1 mắc nghiện ma túy từ năm 2000, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng mà túy là chích vào cơ thể. Hà Văn T1 được gia đình và chính quyền địa phương giúp đỡ và giáo dục để cai nghiện nhưng vẫn không thành công.
Tại Đơn tự nguyện xin đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc; bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và tại biên bản ghi lời khai, cùng các tài liệu có trong hồ sơ Hà Văn T1 thừa nhận: Bản thân Hà Văn T1 đã nghiện ma túy từ lâu, loại ma túy sử dụng Heroine, hình thức sử dụng là tiêm chích vào cơ thể, tần suất sử dụng là mỗi ngày một lần, mỗi lần 01 tép nhỏ. Ngày 11/6/2026 Hà Văn T1 tự nguyện đến Công an phường Đ, tỉnh Thái Nguyên để khai báo về tình trạng nghiện ma tuý loại Heroine của mình và có đơn xin đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc. Căn cứ nội dung trên, Công an phường Đ phối hợp với Trạm y tế phường Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể và đề nghị Bệnh viện P xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Hà Văn T1.
Tại kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 12/6/2026 của Trạm y tế phường Đ xác định Hà Văn T1 dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 15/6/2026 của của Bệnh viện P xác định Hà Văn T1 có nghiện ma túy, loại Heroine.
Tại biên bản làm việc ngày 23/6/2026 tại Công an phường Đ thể hiện: Hà Văn T1 sau khi được giải thích quyền và nghĩa vụ đã thừa nhận nghiện ma tuý. Tuy nhiên Hà Văn T1 không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Bản thân Hà Văn T1 vẫn lệ thuộc vào chất ma tuý, không có việc làm ổn định, không làm ra tiền, không có tài sản, sống chủ yếu phụ thuộc vào bố mẹ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời bản thân Hà Văn T1 không có nghị lực, bản lĩnh, không có điều kiện và khả năng đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone. Do đó Hà Văn T1 tự nguyện đồng ý đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 23/6/2026, Công an phường Đ thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1. Ngày 29/6/2026, Trưởng Công an phường Đ, tỉnh Thái Nguyên có văn bản số 684/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1.
* Tại phiên họp:
Cơ quan đề nghị có ý kiến: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 với thời gian từ 20 đến 24 tháng.
Hà Văn T1 tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, không có thắc mắc gì về trình tự, thủ tục, hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và nhất trí áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng đề nghị được hưởng thời hạn áp dụng thấp nhất theo quy định.
Kiểm sát viên tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã đúng quy định của Pháp lệnh Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 thời gian từ 18 đến 20 tháng.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1.
Trên cơ sở nội dung vụ việc, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên họp,
XÉT THẤY:
Về thẩm quyền: Việc xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên.
Về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính: Ngày 23/6/2026 Hà Văn T1 có hành vi vi phạm. Tính đến ngày Tòa án nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1 thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đảm bảo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ được lập theo đúng quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện; Điểm đ khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT – BCA – VKSNDTC – TANDTC ngày 01 tháng 3 năm 2025 của Bộ C – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khi sắp xếp tổ chức bộ máy Nhà nước.
Về căn cứ xem xét xác định người bị đề nghị thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc:
Hành vi của Hà Văn T1 thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: "Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật Phòng, chống ma túy"
Hà Văn T1 là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định, tự nguyện đến Công an phường Đ khai báo về tình trạng nghiện ma túy của mình và có đơn tự nguyện đăng ký cai nghiện ma túy tại cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.
Điểm đ, khoản 1 Điều 7 thông tư liên tịch số 03/2025 ngày 01/3/2025 quy định:
“đ) Trường hợp người nghiện ma túy tự đến Công an cấp xã để khai báo về tình trạng nghiện của mình và có đơn xin đi cai nghiện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc thì hồ sơ đề nghị gồm có: đơn tự nguyện xin đi cai nghiện; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy hiện tại của người đó; bản tường trình của người nghiện ma túy hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan.”
Hà Văn T1 vi phạm quy định tại Khoản 1,3 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định Hà Văn T1 thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét thấy hành vi vi phạm của Hà Văn T1 đã làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, làm ảnh hưởng đến sự quản lý chất biệt dược của Nhà nước, do đó cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Hà Văn T1 vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hà Văn T1 có thời gian nghiện ma tuý lâu dài từ năm 2000 đến nay. Hà Văn T1 có nhân thân xấu. Ngày 22/4/2026 Hà Văn T1 có hành vi trộm cắp tài sản tại xã C, tỉnh Thái Nguyên, ngày 19/5/2026 Công an xã C, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng. Hà Văn T1 không có tình tiết tăng nặng. Quá trình lập hồ sơ Hà Văn T1 đã tự nguyện khai báo và thành thật hối lỗi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy ý kiến và đề nghị của Trưởng Công an phường Đ là có căn cứ, cần được chấp nhận. Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 3, Điều 20, Điều 23, Điều 24; Điều 30 và Điều 31 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Khoản 1,3 Điều 32 Luật Phòng chống ma túy; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điểm đ khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hà Văn T1.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày công an phường Đ bàn giao Hà Văn T1 cho cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại, Người đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên có quyền kháng nghị đối với quyết định này trong thời hạn 05 (Năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Công an phường Đ, tỉnh Thái Nguyên đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 6 – Thái Nguyên (01); - Công an tỉnh Thái Nguyên (01); - Công an Phường Đức Xuân (01); - Cơ sở cai nghiện ma tuý số 2, tỉnh Thái Nguyên (01); - Người bị đề nghị (01); - Lưu hồ sơ, VP. | Bảo Thanh Toàn |