- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Cảnh D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Cảnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2026/HS-ST Ngày 04 - 02 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi.
-Các hội thẩm nhân dân:Ông Lê Khải, bà Phạm Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Mỹ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thơm, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9- Lâm Đồng mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/HSST, ngày 31/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2026/QĐXXST-HS, ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Cảnh D, sinh năm 1985; Nơi sinh: thành phố Huế; Căn cước công dân 046085008086, cấp ngày 11/5/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Bộ Công an; Địa chỉ: Thôn N, xã N, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Bá T, sinh năm 1961 và bà Trần Thị H, sinh năm 1963; bị cáo chưa vợ và con; Tiền án: không, tiền sự: không.
Về nhân thân: Tại Quyết định số 0550, quyển số 1, ngày 02/7/2009 của Công an xã Đ, tỉnh Đăk Nông (nay Công an xã K, tỉnh Lâm Đồng) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 200.000 đồng; Tại Bản án số 31/2010/HSST, ngày 01/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông (nay Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng) xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đang tại ngoại – Có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1977, địa chỉ: Thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 08 năm 2025 Lê Cảnh D đến xem, tham quan khu vực nuôi dúi của gia đình ông Nguyễn Văn L ở thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng nên D biết được vị trí, địa hình khu vực nuôi dúi. Đêm ngày 22/09/2025, rạng sáng ngày 23/9/2025 thấy trời mưa kéo dài, đêm khuya, D nghĩ gia đình ông L ngủ say nên nảy sinh ý định trộm cắp dúi để về nuôi làm giống. D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 47F1-249.88, mang theo 02 lồng sắt, 02 sợi dây thun, 02 kìm bấm và 01 sợi dây dù đi đến khu vực đường bê tông phía sau rẫy cà phê của ông L. D để xe và các công cụ mang theo ngoài đường rồi đi vào vườn cà phê gần đó tìm được 01 chiếc thang của người dân, D vác thang và cầm các công cụ đi bộ tiếp cận hàng rào lưới B40, dùng kìm cắt lưới tạo lối đi rồi đột nhập vào vườn. Tiếp đó, D dùng kéo cắt một mảnh cửa tôn phía sau nhà nuôi dúi của ông L, thò tay vào bên trong mở chốt cửa rồi đi vào đường luồng, dùng thang trèo lên khe hở giữa tường và mái nhà, dùng điện thoại soi vào khu vực nuôi dúi. Khi không thấy có gì bất thường, D dùng dây dù buộc một đầu vào lồng sắt rồi từ từ thả xuống khu vực nuôi dúi. Sau đó, D đu vào dây dù để trèo xuống khu vực chuồng dúi. Tại đây, D đã bắt 20 con dúi trưởng thành, chia vào 02 lồng sắt, rồi trèo tường ra bên ngoài và kéo lần lượt 02 lồng sắt cùng số dúi bắt được đưa ra vị trí để xe. Tiếp đến D quay lại vác thang để lại vị trí ban đầu, cất sợi dây dù và 02 cái kìm vào cốp xe, dùng dây thun cố định 02 lồng sắt chứa 20 con dúi trên xe rồi chở về nhà nuôi giữ.
Đến khoảng 06 giờ 30, ngày 23/09/2025 ông Nguyễn Văn L phát hiện bị mất 20 con dúi mốc (loại dúi giống) nên đã trình báo Công an xã Nam Đà. Quá trình xác minh nội dung vụ việc nên khoảng 09 giờ ngày 23/09/2025 Lê Cảnh D đến Công an xã N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội đồng thời tự nguyện giao nộp 20 con dúi đã trộm cắp cùng toàn bộ các công cụ, phương tiện đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
- Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu: 20 cá thể dúi mốc lớn, trưởng thành (gồm 08 cá thể đực và 12 cá thể cái), có tổng trọng lượng 29,65kg; 01 (một) cái thang, dài 3,3m, phần rộng nhất là 0,8m; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát: 47F1-249.88 (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bấm, có cán bọc bằng cao su, màu xanh trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bấm cành, có cán màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây dù màu xanh, kích thước 25m x 0,02m (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây thun, có hai đầu móc, kích thước 1,5m x 0,02m (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây thun màu đen, kích thước 2,5m x 0,01m (đã qua sử dụng); 02 (hai) lồng sắt, mỗi lồng có cùng kích thước 0,7m x 0,36m x0,25m và gắn 10 lồng sắt nhỏ lại với nhau; 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, Model: TA-1203, số imei: 356107168218264 (đã qua sử dụng).
- 01 (một) USB (thiết bị lưu trữ) màu xám bạc, hiệu Kingstone dung lượng 4GB.
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND xã N kết luận: Tại thời điểm ngày 23/9/2025, 20 cá thể dúi mốc lớn, trưởng thành (gồm 08 cá thể đực và 12 cá thể cái), có tổng trọng lượng 29,65kg.
+ Giá trị thành phẩm lấy thịt là: 19.272.500 đồng (Mười chín triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm đồng).
+ Giá trị dúi giống là: 36.400.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-KV9 ngày 31 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Lê Cảnh D về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Lê Cảnh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng truy tố bị cáo là đúng.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố hành vi của bị cáo Lê Cảnh D như bản cáo trạng số 17/CT-VKS-KV9 ngày 31 tháng 12 năm 2025. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Cảnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, Xử phạt bị cáo Lê Cảnh D mức án từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Lê Cảnh D đã bồi thường cho gia đình Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
+ Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng trả lại 20 cá thể dúi cho ông Nguyễn Văn L. Trả lại 01 (một) cái thang, dài 3,3m, phần rộng nhất là 0,8m cho bà Trần Thị Thùy T. Bàn giao lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47F1-249.88 (đã qua sử dụng) cho Công an xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xử lý theo thẩm quyền.
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kìm bấm, có cán bọc bằng cao su, màu xanh trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bấm cành, có cán màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây dù màu xanh, kích thước 25m x 0,02m (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây thun, có hai đầu móc, kích thước 1,5m x 0,02m (đã qua sử dụng; 01 (một) sợi dây thun màu đen, kích thước 2,5m x 0,01m (đã qua sử dụng); 02 (hai) lồng sắt, mỗi lồng có cùng kích thước 0,7m x 0,36m x0,25m và gắn với 10 lồng sắt nhỏ lại với nhau.
+ Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia (loại trắng đen, đã qua sử dụng).
- Lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) USB (thiết bị lưu trữ) màu xám bạc, hiệu Kingstone dung lượng 4GB.
Tại phiên toà, bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 00 giờ 05 phút ngày 23/09/2025, Lê Cảnh D đã lén lút đột nhập vào chuồng nuôi dúi của gia đình ông Nguyễn Văn L tại thôn Đ, xã N, tỉnh Lâm Đồng trộm cắp 20 con Dúi (loại Dúi giống), trị giá 36.400.000 đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).
Như vậy, hành vi của bị cáo Lê Cảnh D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo đã trộm cắp tài sản của bị hại trị giá 36.400.000 đồng. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, mới có đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu đều có hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, cụ thể: Tại Quyết định số 0550, quyển số 1, ngày 02/7/2009 của Công an xã Đắk Drô, tỉnh Đăk Nông (nay Công an xã Krông Nô, tỉnh Lâm Đồng) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, mức phạt 200.000 đồng; Tại Bản án số 31/2010/HSST, ngày 01/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đăk Nông (nay Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng) xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nhiêm trọng; đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bố của bị cáo là ông Lê Bá Thiệp được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huân chương chiến công hạng ba, được Bộ trưởng Bộ quốc phòng tặng bằng khen. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Cảnh D đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng trả lại 20 cá thể dúi cho ông Nguyễn Văn L. Trả lại 01 (một) cái thang, dài 3,3m, phần rộng nhất là 0,8m cho bà Trần Thị Thùy T. Bàn giao lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47F1-249.88 (đã qua sử dụng) cho Công an xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xử lý theo thẩm quyền.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kìm bấm, có cán bọc bằng cao su, màu xanh trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bấm cành, có cán màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây dù màu xanh, kích thước 25m x 0,02m (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây thun, có hai đầu móc, kích thước 1,5m x 0,02m (đã qua sử dụng; 01 (một) sợi dây thun màu đen, kích thước 2,5m x 0,01m (đã qua sử dụng); 02 (hai) lồng sắt, mỗi lồng có cùng kích thước 0,7m x 0,36m x0,25m và gắn với 10 lồng sắt nhỏ lại với nhau.
- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia (loại trắng đen, đã qua sử dụng).
- Lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) USB (thiết bị lưu trữ) màu xám bạc, hiệu Kingstone dung lượng 4GB.
. Về án phí: Bị cáo Lê Cảnh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Cảnh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Cảnh D 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Cảnh D đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Văn L số tiền 10.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1, 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
- Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng trả lại 20 cá thể dúi cho ông Nguyễn Văn L. Trả lại 01 (một) cái thang, dài 3,3m, phần rộng nhất là 0,8m cho bà Trần Thị Thùy T. Bàn giao lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 47F1-249.88 (đã qua sử dụng) cho Công an xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xử lý theo thẩm quyền.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kìm bấm, có cán bọc bằng cao su, màu xanh trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) kìm bấm cành, có cán màu vàng (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây dù màu xanh, kích thước 25m x 0,02m (đã qua sử dụng); 01 (một) sợi dây thun, có hai đầu móc, kích thước 1,5m x 0,02m (đã qua sử dụng; 01 (một) sợi dây thun màu đen, kích thước 2,5m x 0,01m (đã qua sử dụng); 02 (hai) lồng sắt, mỗi lồng có cùng kích thước 0,7m x 0,36m x0,25m và gắn với 10 lồng sắt nhỏ lại với nhau.
- Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Nokia (loại trắng đen, đã qua sử dụng).
- Lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) USB (thiết bị lưu trữ) màu xám bạc, hiệu Kingstone dung lượng 4GB.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Cảnh D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đat hợp lệ theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - CQCSĐT Công an tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND khu vực 9; - Phòng THADS khu vực 9; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký, đóng dấu) Võ Thị Nhi |