vanban.org

Bản án 11/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đà Nẵng, TP Đà Nẵng Tuyên án 27/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 19/11/2025). Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân B - Trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2026/HS-ST
Ngày 27- 02 -2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trà Thị Thanh Thắm;

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trương Phước;

ông Nguyễn Lương Xu;

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Phúc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: bà Trương Thị Lệ Tín - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:

Bùi Xuân B, sinh ngày 02 tháng 3 năm 1991. Nơi sinh: Xã T, thành phố Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Địch Tây, xã T, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân H, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1963;

Tiền án: Ngày 23/8/2023,Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 BLHS ( Bản án số 37/2023/HS-ST) chấp hành xong vào ngày 27/5/2024.

Tiền sự: ngày 04/02/2025, Công an xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, số tiền 1.500.000 đồng ( đã chấp hành xong)

Nhân thân:

Ngày 31/7/2013, Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 30 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 22/2013/HS-ST) chấp hành xong ngày 25/4/2015.

Ngày 22/12/2017, Tòa án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam (cũ) xử phạt 36 tháng tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 25/2017/HS-ST) chấp hành xong vào ngày 01/9/2019.

Ngày 13/4/2022, Uỷ ban nhân dân xã Tiên Phong, huyện Tiên Phước (cũ) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”, số tiền 2.000.000 đồng, chấp hành xong ngày 15/4/2022.

Ngày 21/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (cũ) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng.

Ngày 20/6/2025, Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam (cũ) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng; hiện đang tạm đình chỉ theo Quyết định số 369/QĐ-CSCNS2 ngày 19/11/2025 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 2, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/11/2025. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại:

1. Viễn thông Đà Nẵng (VNPT – Đà Nẵng) – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.

Đại diện theo pháp luật: ông Trần Danh V – Giám đốc VNPT Đà Nẵng.

Đại diện theo uỷ quyền: ông Phạm Hồng V – Giám đốc Trung tâm Tiên Phước, VNPT Đà Nẵng. Địa chỉ: Tổ dân phố 5, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

2. Trung tâm mạng lưới Mobifone Miền Trung

Đại diện theo pháp luật: ông Đặng Phước H – Giám đốc

Đại diện theo uỷ quyền: ông Võ Văn V – Tổ trưởng Tổ Viễn thông Nam Quảng Nam, Đài Viễn thông Đà Nẵng – Trung tâm mạng lưới Mobifone Miền Trung. Địa chỉ: số nhà 11, đường Đinh Lễ, phường B, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

3. Tổng Công ty Cổ phần Công trình Viettel.

Đại diện theo pháp luật: ông Trần Oai Ph

Đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Tấn H – Giám đốc Chi nhánh Công trình Viettel Quảng Nam. Địa chỉ: thôn Liễu Thạnh, xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị Thanh Th, sinh năm: 1980. Địa chỉ: thôn 7B, xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1963. Địa chỉ: thôn Địch Tây, xã T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

3. Ông Bùi Xuân H, sinh năm: 1954. Địa chỉ: thôn Địch Tây, xã T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Quang B, sinh năm: 1985. Địa chỉ: khối phố Tiên Bình, xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

2. Ông Võ Trường N, sinh năm: 1992. Địa chỉ: thôn Tiên Phú Tây, xã T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân bị cáo nghiện ma tuý. Vì vậy, để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng bị cáo nảy sinh ý định đến các trạm phát sóng viễn thông (thường gọi là trạm BTS) trên địa bàn xã T để trộm cắp tài sản là dây điện. Quá trình điều tra, xác định được bị cáo đã thực hiện 05 vụ trộm cắp tài sản với cách thức tương tự nhau, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 07 giờ 00 ngày 25/6/2025, bị cáo lấy một cái kìm và một con dao (loại dao Thái Lan) là đồ dùng sinh hoạt trong gia đình rồi điều khiển xe đạp ( của cha ruột là Bùi Xuân H) đi theo đường ĐH1 Tiên Phước đi đến thôn Phú Xuân, xã T. Bị cáo dừng xe ở lề đường ĐH1 rồi đi bộ lên trạm phát sóng viễn thông của Trung tâm viễn thông Tiên Phước (VNPT Tiên Phước) xây dựng trên đồi núi cách đường ĐH1 khoảng 150 mét. Tại đây, bị cáo đi vào bên trong trạm BTS dùng kìm bấm 05 đoạn dây điện (có lõi bằng đồng) kết nối các thiết bị phát sóng viễn thông, gồm 03 đoạn dây điện, loại dây có đường kính 1x16mm2 với, dài 21 mét; 01 đoạn dây điện, loại dây có đường kính 1x35mm,2 dài 6,5 mét; 01 đoạn dây diện loại dây có đường kính 1x50mm2 dài 0,5 mét. Sau đó, bị cáo đem ra rẫy keo dùng dao lọc hết vỏ nhựa bên ngoài lấy lõi dây đồng rồi đem đến tiệm thu mua phế liệu của Trần Thị Thu Th bán được số tiền là 260.000 đồng (hai trăm sáu mươi nghìn)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 230/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận:

+ 03 (ba) đoạn dây điện có tổng chiều dài là 21m (hai mươi mốt mét), là loại dây điện nguồn màu đen, nhãn hiệu Cadivi, tiết diện mặt cắt danh định là 16 mm2; có lõi bằng đồng được quấn bằng nhiều sợi, đường kính lõi đồng 4,8 mm, vỏ bọc bằng nhựa có độ dày 01 mm. Có giá trị: 1.050.000 đồng (một triệu, không trăm năm mươi nghìn)

+ 01 (một) đoạn dây điện dài 6,5m (sáu phẩy năm mét), nhãn hiệu Cadivi, tiết diện mặt cắt danh định 35 mm2, có lõi bằng đồng được quấn bằng nhiều sợi, đường kính lõi đồng 7,1 mm, vỏ bọc bằng nhựa có độ dày 1,2 mm. Có giá trị 585.000 đồng ( năm trăm tám mươi lăm nghìn)

+ 01 (một) đoạn dây điện dài 0,5 m (không phẩy năm mét), nhãn hiệu Cadivi, tiết diện mặt cắt danh định 50 mm2, có lõi bằng đồng được quấn bằng nhiều sợi, đường kính lõi đồng 8,3 mm, vỏ bọc bằng nhựa có độ dày 1,4 mm. Có giá trị 60.000 đồng (sáu mươi nghìn)

Tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 1.695.000 đồng ( một triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn)

Vụ thứ hai: Khoảng 10 giờ 00 ngày 27/6/2025, bị cáo đến tại trạm phát sóng viễn thông (trạm BTS) của Trung tâm mạng lưới Mobifone miền Trung được lắp đặt tại thôn 5, xã T, cách đường QL40B khoảng 500 mét, bị cáo sử dụng kìm bấm cắt lấy 08 đoạn dây điện để kết nối các thiết bị viễn thông (loại dây có đường kính 1x35mm2, dài 18 mét), rồi đem ra một vườn keo cách trạm BTS khoảng 50 mét dùng dao mang theo lọc bỏ lớp vỏ nhựa bên ngoài lấy dây đồng bên trong. Sau đó, mang số dây đồng vừa trộm cắp được đi xuống bỏ vào giỏ xe đạp rồi điều khiển xe đạp đi đến tiệm thu mua phế liệu của Trần Thị Thu Th bán được số tiền 480.000 đồng (bốn trăm tám mươi nghìn)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản xã Tiên Phước, thành phố Đà Nẵng kết luận: tám (08) đoạn dây diện lõi bằng đồng, nhãn hiệu Cadivi, loại dây M25 mm2 (lõi đồng có diện 1x16 mm2), vỏ bằng nhựa có màu xanh, tổng chiều dài là 18 mét, đã qua sử dụng có giá trị là 762.000 đồng (bảy trăm sáu mươi hai nghìn)

Vụ thứ ba: Sáng ngày 03/7/2025, bị cáo đi đến trạm phát sóng viễn thông (trạm BTS) của Trung tâm mạng lưới Mobifone miền Trung lắp đặt tại thôn Địch Tây, xã T dùng kìm phá ổ khoá rồi đi vào trong trạm BTS dùng kìm bấm lấy 05 đoạn dây điện lõi đồng để kết nối các thiết bị phát sóng viễn thông (loại dây có đường kính 1x25mm2, dài 12 mét). Sau đó, đem ra rẫy keo cách trạm khoảng 200 mét, sử dụng dao mang theo rọc bỏ hết vỏ dây điện, lấy lõi đồng bên trong. Bị cáo đem số dây đồng bỏ trong giỏ xe rồi điều khiển xe đạp đi đến một tiệm thu mua phế liệu tại xã C bán được số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản xã Tiên Phước kết luận: năm (05) đoạn dây diện lõi bằng đồng, nhãn hiệu Cadivi, loại dây M25 mm2 (lõi đồng diện 01x16 mm2), vỏ bằng nhựa có màu xanh, tổng chiều dài là 12 mét, đã qua sử dụng có giá trị là 508.000 đồng (năm trăm lẽ tám nghìn)

Vụ thứ tư: Sáng ngày 04/7/2025, bị cáo đến trạm phát sóng viễn thông (trạm BTS) của Viettel Tiên Phước được lắp đặt tại thôn Hội Lâm, xã S, cách đường ĐT615 khoảng 500 mét tìm thấy chìa khoá tại nền trạm BTS nên sử dụng chìa khoá để mở khoá cửa trạm đi vào trong dùng kìm bấm lấy 05 đoạn dây điện lõi đồng kết nối các thiết bị viễn thông (02 đoạn dây, loại dây có đường kính 1 x 25mm2, dài 7,6 mét; 02 đoạn dây, loại dây có đường kính 1 x 35mm2 dài 7,6 mét ; 01 đoạn dây, loại dây có đường kính 1 x 50mm2 dài 6 mét). Sau đó, mang số dây điện nói trên ra bên ngoài, sử dụng dao mang theo lọc bỏ vỏ nhựa, lấy dây đồng bên trong. Bị cáo đem số dây đồng vừa trộm cắp được bỏ vào giỏ xe đạp rồi điều khiển xe đạp đi đến tiệm thu mua phế liệu của Trần Thị Thu Th bán được số tiền 840.000 đồng ( tám trăm bốn mươi nghìn)

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 04/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản xã T kết luận:

+ Một (01) dây điện, nhãn hiệu cadivi, lõi đồng, vỏ nhựa, loại dây 1x50 mm2, dài 6 mét có giá trị là 252.000 đồng ( hai trăm năm mươi hai nghìn)

+ Hai (02) dây điện, nhãn hiệu cadivi, lõi đồng, vỏ nhựa, loại dây 1x35 mm2 dài 7,6 mét có giá trị là 239.000 đồng ( hai trăm ba mươi chín nghìn)

+ Hai (02) dây điện, nhãn hiệu cadivi, lõi đồng, vỏ nhựa, loại dây 1x25 mm2 dài 7,6 mét có giá trị là 205.000 đồng ( hai trăm lẽ năm nghìn)

Tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 696.000 đồng ( sáu trăm chín mươi sáu nghìn)

Vụ thứ năm: Khoảng 10 giờ 00 ngày 06/7/2025, bị cáo đi đến trạm phát sóng viễn thông (trạm BTS) của Viettel Tiên Phước được lắp đặt tại thôn Phái Bắc, xã T, dùng kìm phá khoá cửa rồi đi vào trong trạm dùng kìm bấm lấy 09 đoạn dây điện lõi đồng kết nối các thiết bị viễn thông (gồm 08 đoạn dây, loại dây có đường kính 1x35mm2 dài 22,9 mét; 01 đoạn dây, loại dây có đường kính 1x16mm2 dài 1,9 mét), rồi đem ra ngoài đi đến vạt đất cách trạm khoảng 30-50 mét, dùng dao mang theo lọc bỏ vỏ nhựa, lấy lõi đồng bên trong cuộn lại rồi bỏ vào một bao ni lông. Khi bị cáo đem số dây đồng vừa trộm cắp được đi xuống vị trí để xe đạp thì phát hiện có người nhìn thấy nên bị cáo bỏ chạy ngược lên hướng trạm phát sóng viễn thông vứt bao ni lông có lõi đồng phía dưới vị trí bảng hiệu bảo vệ rừng rồi bỏ chạy trốn sau đó đi bộ về nhà.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 22/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản xã T kết luận:

+ Tám (08) đoạn dây điện, nhãn hiệu Cadivi, có tiết diện là (1 x 35)mm2, có lõi bằng đồng gồm nhiều sợi dây đồng quấn thành lõi với tổng chiều dài là: 22,9 mét, đã qua sử dụng, có giá trị 721.000 đồng ( bảy trăm hai mốt nghìn)

+ Một (01) đoạn dây điện nhãn hiệu Cadivi, có tiết diện là (1 x 16)mm2, có lõi bằng đồng gồm nhiều sợi dây đồng quấn thành lõi với tổng chiều dài là: 1,9 mét, đã qua sử dụng, có giá trị: 51.000 đồng (năm mốt nghìn)

Tổng giá trị tài sản trộm cắp là: 772.000 đồng ( bảy trăm bảy mươi hai nghìn)

Quá trình làm việc với bị cáo liên quan đến việc chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 34/2025/QĐ-TA ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, bị cáo đã tự khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

* Về thu giữ và xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng đã tạm giữ các vật chứng sau:

+ Một áo sơ mi vải, màu đen, trên cổ áo có chữ "LT Fashion", vai áo bên phải bị rách, đã qua sử dụng. Một quần jean lửng, vải, màu đen, đã qua sử dụng. Một Mũ lưỡi trai, vải, màu rằn ri, phía trước mũ có chữ "Columbia", đã qua sử dụng. Một áo khoát, dài tay, vải thun màu xám, trên hai cánh tay áo và ngực áo có chữ "FiLa". Các vật chứng đều là trang phục cá nhân của bị cáo, sử dụng khi đi trộm cắp tài sản.

+ Một con dao, thường gọi là dao Thái lan dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11cm, cán gỗ dài 11,5cm, đã qua sử dụng. Một kìm bấm, kim loại dài 17cm, lưỡi bằng kim loại dài 04cm, cán dài 13cm được quấn bằng bằng keo màu đen, đã qua sử dụng. Các vật chứng là đồ dùng sinh hoạt của ông Bùi Xuân H và bà Nguyễn Thị D, bị cáo tự ý lấy sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội.

+ Một xe đạp, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, phía trước đầu xe đạp có gắn một giỏ xe bằng kim loại màu đen (xe thuộc sở hữu của ông Bùi Xuân H, ông H không biết việc bị cáo sử dụng xe của mình để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản).

+ Sáu vỏ dây điện bằng nhựa (Một dây dài 2,40 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,05 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,4 mét, màu xanh nước biến, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,4 mét, màu đen, diện 1x35 mm2; một dây dài 3 mét, màu xàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 1,9 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x16 mm2. Một bao ni lông chứa nhiều dây kim loại đồng (Một dây dài 2,40 mét, nặng: 0,7kg; một dây dài 4,05 mét, nặng: 01kg; một dây dài 4,4 mét, nặng: 1,2kg; một dây dài 4,4 mét, nặng: 1,2kg; một dây dài 3,9 mét, nặng: 0,8kg; một dây dài 1,1 mét, nặng: 0,1kg; một dây dài 1,9 mét, nặng: 0,2kg; một dây dài 2,3 mét, nặng: 0,3kg; một dây dài 0,35 mét, nặng: 0,05kg). Các vật chứng này là tài sản bị cáo trộm cắp tại Trạm phát sóng viễn thông của Viettel Tiên Phước thuộc thôn Phái Bắc, xã T vào ngày 06/7/2025 nhưng chưa kịp tiêu thụ thì bỏ chạy vứt tại hiện trường.

Về dân sự: Các bị hại đều không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do thiệt hại nhỏ, đã tự khắc phục ngay sau bị cắt trộm.

Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKSKV7-HS ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng truy tố bị cáo Bùi Xuân B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Bùi Xuân B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2025) xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Mặc dù bản thân bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi cắt trộm các dây điện tại các trạm phát sóng viễn thông, trong đó:

- Ngày 25/6/2025 cắt trộm các dây điện tại trạm phát sóng viễn thông đặt tại thôn Phú Xuân, xã T trị giá 1.695.000 đồng ( một triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn)

- Ngày 27/6/2025 cắt trộm các dây điện tại trạm phát sóng viễn thông đặt tại thôn 5, xã T trị giá 762.000 đồng (bảy trăm sáu mươi hai nghìn)

- Ngày 03/7/2025 cắt trộm các dây điện tại trạm phát sóng viễn thông đặt tại thôn Địch Tây, xã T trị giá 508.000 đồng ( năm trăm lẽ tám nghìn)

- Ngày 04/7/2025 cắt trộm các dây điện tại trạm phát sóng viễn thông đặt tại thôn Hội Lâm, xã S trị giá 696.000 đồng ( sáu trăm chín mươi sáu nghìn)

- Ngày 06/7/2025 cắt trộm các dây điện tại trạm phát sóng viễn thông đặt tại thôn Phái Bắc, xã T trị giá 772.000 đồng ( bảy trăm bảy mươi hai nghìn)

Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 4.433.000 đồng ( bốn triệu, bốn trăm ba mươi ba nghìn)

. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết luận định giá tài sản, phù hợp với lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác cũng như phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận công khai tại phiên tòa. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội: Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2025) như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đà Nẵng là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội để có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo trong vụ án thì thấy: bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án, bị xử phạt vi phạm hành chính và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không có ý chí vươn lên để cai nghiện ma tuý, hoà nhập với cộng đồng. Lần này bị cáo thực hiện 5 vụ trộm cắp tài sản nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2025). Tuy nhiên, khi làm việc với bị cáo về việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thì bị cáo đã tự nguyện khai ra các lần trộm cắp của mình. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “ người phạm tội tự thú”, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện được thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2025) để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không có yêu cầu nên không đề cập giải quyết.

. Về xử lý vật chứng:

+ Một áo sơ mi vải, màu đen, trên cổ áo có chữ "LT Fashion", vai áo bên phải bị rách, đã qua sử dụng. Một quần jean lửng, vải, màu đen, đã qua sử dụng. Một Mũ lưỡi trai, vải, màu rằn ri, phía trước mũ có chữ "Columbia", đã qua sử dụng. Một áo khoát, dài tay, vải thun màu xám, trên hai cánh tay áo và ngực áo có chữ "FiLa". Các vật chứng đều là trang phục cá nhân của bị cáo, sử dụng khi đi trộm cắp tài sản. Tại phiên toà bị cáo khai các vật chứng này không còn giá trị sử dụng nên không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

+ Một con dao, thường gọi là dao Thái lan dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11cm, cán gỗ dài 11,5cm, đã qua sử dụng. Một kìm bấm, kim loại dài 17cm, lưỡi bằng kim loại dài 04cm, cán dài 13cm được quấn bằng bằng keo màu đen, đã qua sử dụng. Các vật chứng là đồ dùng sinh hoạt của ông Bùi Xuân H và bà Nguyễn Thị D, bị cáo tự ý lấy sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

+ Sáu vỏ dây điện bằng nhựa (Một dây dài 2,40 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,05 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,4 mét, màu xanh nước biến, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,4 mét, màu đen, diện 1x35 mm2; một dây dài 3 mét, màu xàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 1,9 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x16 mm2. Một bao ni lông chứa nhiều dây kim loại đồng (Một dây dài 2,40 mét, nặng: 0,7kg; một dây dài 4,05 mét, nặng: 01kg; một dây dài 4,4 mét, nặng: 1,2kg; một dây dài 4,4 mét, nặng: 1,2kg; một dây dài 3,9 mét, nặng: 0,8kg; một dây dài 1,1 mét, nặng: 0,1kg; một dây dài 1,9 mét, nặng: 0,2kg; một dây dài 2,3 mét, nặng: 0,3kg; một dây dài 0,35 mét, nặng: 0,05kg). Các vật chứng này là tài sản bị cáo trộm cắp tại Trạm phát sóng viễn thông của Viettel Tiên Phước thuộc thôn Phái Bắc, xã Tiên Phước vào ngày 06/7/2025 nhưng chưa kịp tiêu thụ thì bỏ chạy vứt tại hiện trường. Các vật chứng này bị hại không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

+ Một xe đạp, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, phía trước đầu xe đạp có gắn một giỏ xe bằng kim loại màu đen (xe thuộc sở hữu của ông Bùi Xuân H, ông H không biết việc bị cáo sử dụng xe của mình để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp tài sản). Xét thấy, đây là tài sản hợp pháp của ông H, bà D nên trả lại cho họ là phù hợp.

Đối với số tiền 4.433.000 đồng là tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp, mặt dù hiện nay bị hại không có yêu cầu bồi thường nhưng xét thấy đây là khoản thu lợi bất chính nên truy thu sung Ngân sách Nhà nước.

. Về án phí: Bị cáo Bùi Xuân B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Những vấn đề liên quan trong vụ án:

- Đối với hành vi phá các ổ khóa của bị cáo với giá trị tài sản bị hủy hoại là 125.000 đồng (một trăm hai mươi lăm nghìn), Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đà Nẵng có công văn đề nghị và chuyển tài liệu liên quan đến Trưởng Công an xã T, thành phố Đà Nẵng để xử lý vi phạm hành chính đối với bị cáo theo quy định, xét thấy như vậy là phù hợp.

- Đối với hành vi bà Trần Thị Thu Th khi mua các lõi dây đồng của bị cáo nhưng không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý trách nhiệm của bà Thuỷ là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, các điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025):

Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 19/11/2025).

- Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu huỷ:

+ Một áo sơ mi vải, màu đen, trên cổ áo có chữ "LT Fashion", vai áo bên phải bị rách, đã qua sử dụng. Một quần jean lửng, vải, màu đen, đã qua sử dụng. Một Mũ lưỡi trai, vải, màu rằn ri, phía trước mũ có chữ "Columbia", đã qua sử dụng. Một áo khoát, dài tay, vải thun màu xám, trên hai cánh tay áo và ngực áo có chữ "FiLa".

+ Một con dao, thường gọi là dao Thái lan dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 11cm, cán gỗ dài 11,5cm, đã qua sử dụng. Một kìm bấm, kim loại dài 17cm, lưỡi bằng kim loại dài 04cm, cán dài 13cm được quấn bằng bằng keo màu đen.

+ Sáu vỏ dây điện bằng nhựa (Một dây dài 2,40 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,05 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,4 mét, màu xanh nước biến, diện 1x35 mm2; một dây dài 4,4 mét, màu đen, diện 1x35 mm2; một dây dài 3 mét, màu xàng, sọc xanh, diện 1x35 mm2; một dây dài 1,9 mét, màu vàng, sọc xanh, diện 1x16 mm2. Một bao ni lông chứa nhiều dây kim loại đồng (Một dây dài 2,40 mét, nặng: 0,7kg; một dây dài 4,05 mét, nặng: 01kg; một dây dài 4,4 mét, nặng: 1,2kg; một dây dài 4,4 mét, nặng: 1,2kg; một dây dài 3,9 mét, nặng: 0,8kg; một dây dài 1,1 mét, nặng: 0,1kg; một dây dài 1,9 mét, nặng: 0,2kg; một dây dài 2,3 mét, nặng: 0,3kg; một dây dài 0,35 mét, nặng: 0,05kg).

Trả lại cho ông Bùi Xuân H, bà Nguyễn Thị D, địa chỉ: thôn Địch Tây, xã T, thành phố Đà Nẵng 01 xe đạp, màu xanh, không rõ nhãn hiệu, phía trước đầu xe đạp có gắn một giỏ xe bằng kim loại màu.

( Các vật chứng nêu trên hiện ở tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 – Đà Nẵng, theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/02/2026).

Truy thu của bị cáo số tiền 4.433.000 đồng ( bốn triệu, bốn trăm ba mươi ba nghìn) nộp vào Ngân sách Nhà nước.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Bùi Xuân B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người cớ quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ