- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị Bùi Thị Đ với anh anh Lê Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Đ.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2026/HNGĐ-ST Ngày: 03-02-2026. V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Bộ.
2. Bà Dương Thị Ngọc Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Lan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Đ, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Tổ X, khu Y, phường S, tỉnh Thanh Hoá. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ X, khu Y, phường S, tỉnh Thanh Hoá. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 10 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Bùi Thị Đ trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T tìm hiểu và kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. Anh chị đăng ký kết hôn ngày 30/6/2014 tại UBND xã Thành Tâm, huyện Thạch Thành (nay là UBND xã Ngọc Trạo), tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hoà thuận, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Từ đó đến nay tình trạng hôn nhân của vợ chồng càng ngày càng trầm trọng hơn, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, cũng như sự đồng cảm và chia sẻ thực sự. Hiện tại anh chị đang sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân chủ yếu là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp.
Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 04 con chung là các cháu Lê Thuỳ D, sinh ngày 15/12/2014, Lê Ngọc Tr, sinh ngày 27/11/2016, Lê Hồng Th, sinh ngày 26/11/2018, Lê Thanh Tr2, sinh ngày 16/3/2025. Ly hôn, chị yêu cầu Toà án giao cháu Th và Tr2 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Dung và cháu Tr cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; hai bên, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai đề ngày 08/12/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Lê Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Thời gian, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và tình trạng đời sống vợ chồng, anh thống nhất với ý kiến trình bày của chị Bùi Thị Đ. Nay chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh mong muốn vợ chồng được đoàn tụ nên không thống nhất với yêu cầu ly hôn của chị Đ.
Về con chung: Anh và chị Đ có 04 con chung là cháu D, cháu Tr, cháu Th và cháu Tr2, như chị Đ trình bày là đúng. Ly hôn, chị Đ yêu cầu Toà án giao cháu Th và Tr2 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu D và cháu Tr cho anh trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; anh mong muốn vợ chồng được đoàn tụ nên chưa có ý kiến gì về việc nuôi con khi ly hôn.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ tại tổ dân phố Y, phường S, tỉnh Thanh Hoá nơi anh T và chị Đ cư trú:
Vợ chồng anh T, chị Đ là hộ gia đình sinh sống tại tổ dân phố Y, phường S, tỉnh Thanh Hoá. Anh T trước đây đã có một đời vợ và đã ly hôn, sau đó mới kết hôn với chị Đ. Quá trình sinh sống tại địa phương, anh T làm nghề sửa chữa ô tô, làm tự do, ai thuê thì làm chứ không mở xưởng; chị Đ làm ở công ty, sáng đi tối về nên ít khi thấy mặt vợ chồng ở nhà. Tổ dân phố không nghe nói gì về chuyện vợ chồng mâu thuẫn, chỉ nghe nói vợ chồng hay ghen tuông nhau về chuyện tình cảm.
Nguyện vọng của cháu D, cháu Tr và cháu Th: Khi anh T và chị Đ ly hôn, cháu D và cháu Tr muốn được ở với bố, cháu Th muốn ở với mẹ.
Tại phiên tòa, chị Đ giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án, thông báo thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử; việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39, 68, 97, 195, 196, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định tại các Điều 51, 63 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 227 và 334 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị Đ,
- Về hôn nhân: xử cho chị Bùi Thị Đ được ly hôn anh Lê Văn T.
- Về con chung: Giao cháu Lê Hồng Th và cháu Lê Thanh Tr2 cho chị Bùi Thị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Lê Thuỳ D và cháu Lê Ngọc Tr cho anh Lê Văn T trực tiếp nuôi dưỡng; anh T, chị Đ không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
- Về án phí: Buộc chị Bùi Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa các đương sự có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn và cùng cư trú tại phường Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tòa án nhân dân khu vực 6 - Thanh hoá căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự để thụ lý và giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
Anh Lê Văn T là bị đơn trong vụ án, không có yêu cầu phản tố đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Toà án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Về hôn nhân:
Chị Bùi Thị Đ và anh Lê Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn năm 2014 tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị Đ nguyên nhân là do tính cách và quan điểm sống giữa hai vợ chồng không phù hợp. Thực tế, vợ chồng anh chị đang sống trong tình trạng ly thân, không ai quan tâm đến ai. Lời khai của chị Đ phù hợp với ý kiến của anh T. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, anh T tự ý bỏ về, không ký vào biên bản phiên họp; chị Đ đề nghị không tiến hành hoà giải. Điều đó thể hiện cả hai anh chị đều không có thiện chí để hoà giải, giải quyết mâu thuẫn vợ chồng.
Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Đ, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa của các đương sự; căn cứ vào kết quả xác minh của Tòa án tại nơi cư trú của vợ chồng chị Đ, anh T; căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh T đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống. Yêu cầu ly hôn của chị Đ là có căn cứ, với lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu trên, xử cho chị Đ được ly hôn anh T.
Về con chung:
Chị Đ và anh T có 04 con chung là cháu D, cháu Tr, cháu Th và cháu Tr2. Xét yêu cầu của chị Đ về việc nuôi con chung là chính đáng, phù hợp với tình cảm và trách nhiệm của người mẹ dành cho con cái. Căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh thực tế của các đương sự, việc giao cháu Th và cháu Tr2 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu D và cháu Tr cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là bảo đảm quyền lợi cho các cháu, đồng bảo đảm quyền và nghĩa vụ của chị Đ, anh T, cũng như nguyện vọng của các cháu nên chấp nhận yêu cầu của chị Đ.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đ và anh T đều có đủ điều kiện nuôi con, mỗi người đều trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, đã có sự đối trừ quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa hai anh chị, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Đ về việc chị Đ và anh T không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Về tài sản chung: Chị Đ và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn); anh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ: Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83; khoản 1 Điều 88; khoản 1 Điều 107; Điều 110; khoản 1 Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ: Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Đ.
- Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Đ được ly hôn anh Lê Văn T.
- Về con chung: Công nhận các cháu Lê Thuỳ D, sinh ngày 15/12/2014, Lê Ngọc Tr, sinh ngày 27/11/2016, Lê Hồng Th, sinh ngày 26/11/2018, Lê Thanh Tr2, sinh ngày 16/3/2025 là các con chung của chị Bùi Thị Đ và anh Lê Văn T. Giao cháu Th và cháu Tr2 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu D và cháu Tr cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng; chị Đ, anh T không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào; chị Đ, anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung không ai được cản trở.
2. Án phí: Chị Bùi Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn); trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Đ đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo biên lai thu số: 0003034 ngày 14/11/2025. Công nhận chị Đ đã nộp đủ án phí.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc ngày niêm yết) bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND khu vực 6; - THADS T.Thanh Hoá; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Tiến Thịnh |