- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Ngọc T, bị đơn ông Bùi Hoàng B"
- Tòa quyết gì? Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Bà Nguyễn Ngọc T, bị đơn ông Bùi Hoàng B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2026/HNGĐ-ST Ngày: 02-02-2026 Về tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Duyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trương Thị Đạt;
2. Bà Trần Thị Thanh Dung;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Châu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 02 tháng 02 năm 2026 tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 363/2025/TLST-HNGĐ ngày 27/10/2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2025/QĐXXST-HN ngày 23/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 133/2025/QĐXXST-HN ngày 12/01/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc T sinh năm 1985; Địa chỉ: Số B đường số B, khu dân cư N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông Bùi Hoàng B sinh năm 1984; Địa chỉ: Số B đường số B, khu dân cư N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 23/9/2025, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc T trình bày:
Bà và ông Bùi Hoàng B qua thời gian tìm hiểu được 01 năm thì tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2010, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2010 (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2010, quyển số 01/P3 ngày 01/3/2010 do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp), vợ chồng sống hạnh phúc được 09 năm thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mẫu thuẫn là vì cả hai có nhiều mâu thuẫn tranh cãi không hòa hợp được. Bà và ông B đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Từ ngày 10/01/2019 cả hai sống ly thân và không còn liên lạc gì với nhau. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Hoàng B.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn với ông Bùi Hoàng B.
- Về con chung: Bà xác định bà và ông Bùi Hoàng B có 02 con chung là trẻ Bùi Hoàng Ngọc N sinh ngày 16/3/2011 và Bùi Nguyên Ngọc L sinh ngày 19/02/2014. Sau ly hôn bà yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà xác định tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà xác định không có nợ chung.
Bà cam kết việc ly hôn của bà không nhằm trốn tránh nghĩa vụ pháp lý nào và bà chỉ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn – ông Bùi Hoàng B vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Toà án đã tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định pháp nhưng ông Bùi Hoàng B không đến, không có văn bản trình bày ý kiến.
Ý kiến của Viện kiểm sát Nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh:
1. Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các điều từ 93 đến 97 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và cho đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án được giải quyết đúng thời hạn quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật Bộ luật tố tụng năm 2015.
Bị đơn – ông Bùi Hoàng B mặc dù đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt không lý do. Như vậy, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng năm 2015.
3. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bị đơn cư trú tại phường T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Nguyên đơn, Bà Nguyễn Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn – ông Bùi Hoàng B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
Về các yêu cầu của Bà Nguyễn Ngọc T, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Bùi Hoàng B tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2010, quyển số 01/P3 ngày 01/3/2010 do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp) nên là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vì vậy được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Về quan hệ hôn nhân:
Qua các tài liệu chứng cứ Bà Nguyễn Ngọc T cung cấp, cùng lời trình bày của Bà Nguyễn Ngọc T trong qua trình giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Ngọc T có yêu cầu xin ly hôn với ông Bùi Hoàng B, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi đăng ký kết hôn, trong quá trình xây dựng cuộc sống chung vợ chồng do cả hai bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến không thể cùng nhau xây dựng được cuộc sống hôn nhân thực tế và hiện cả hai đã không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ nhưng ông Bùi Hoàng B không đến Tòa chứng tỏ sự thiếu thiện chí trong việc mong muốn giải quyết mâu thuẫn để cùng nhau hàn gắn tình cảm, quan hệ hôn nhân.
Theo Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về xác định, áp dụng căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đến nay vẫn chưa có văn bản thay thế, quy định như sau:
“Căn cứ cho ly hôn:
a. Theo quy định tại khoản 1 Điều 89 thì Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích của hôn nhân không đạt được.
a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.
- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.
a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt...”
Bà Nguyễn Ngọc T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với ông Bùi Hoàng B tại Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau đó bà Nguyễn Ngọc T đã rút đơn để đoàn tụ (Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 153/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng không đạt được kết quả nên ngày 23/9/2025 bà Nguyễn Ngọc T tiếp tục nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Bùi Hoàng B. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng bà T vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn với ông B, vẫn sống ly thân từ tháng 01 năm 2019 cho đến nay. Xét thấy bà Nguyễn Ngọc T và ông Bùi Hoàng B không còn yêu thương, chăm sóc quan tâm lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Ngọc T là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung:
Căn cứ Giấy khai sinh số 50/2011, quyển số 01/P3 đăng ký ngày 11/4/2011 tại Ủy ban nhân dân Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy khai sinh số 77/2014, quyển số 01/2014 đăng ký ngày 10/3/2014 tại Ủy ban nhân dân Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh cùng lời thừa nhận của Bà Nguyễn Ngọc T đã có đủ cơ sở để kết luận: Bà Nguyễn Ngọc T và ông Bùi Hoàng B có 02 (hai) con chung họ và tên: Bùi Hoàng Ngọc N sinh ngày 16/3/2011 và Bùi Nguyên Ngọc L sinh ngày 19/02/2014.
Bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu sau khi ly hôn, giao trẻ Bùi Hoàng Ngọc N sinh ngày 16/3/2011 và Bùi Nguyên Ngọc L sinh ngày 19/02/2014 cho Bà Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông Bùi Hoàng B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, yêu cầu này của Bà Nguyễn Ngọc T là tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của trẻ, phù hợp với các quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đảm bảo quyền lợi mọi mặt cũng như sự phát triển ổn định của trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Bà Nguyễn Ngọc T.
Ông Bùi Hoàng B được quyền và nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Ngọc T khai tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Bà Nguyễn Ngọc T, bị đơn ông Bùi Hoàng B.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc T được ly hôn với ông Bùi Hoàng B (Giấy chứng nhận kết hôn số 13/2010, quyển số 01/P3 ngày 01/3/2010 do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp).
2.2. Về con chung:
Bà Nguyễn Ngọc T và ông Bùi Hoàng B có 02 (hai) con chung họ và tên: Bùi Hoàng Ngọc N sinh ngày 16/3/2011 và Bùi Nguyên Ngọc L sinh ngày 19/02/2014.
Giao trẻ Bùi Hoàng Ngọc N sinh ngày 16/3/2011 và Bùi Nguyên Ngọc L sinh ngày 19/02/2014 cho Bà Nguyễn Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Bùi Hoàng B không cấp dưỡng nuôi con.
Ông Bùi Hoàng B được quyền và nghĩa vụ đi lại trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
1.3 Về tài sản chung: Bà Nguyễn Ngọc T khai tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
1.4 Về nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc T khai không có nên không xem xét, giải quyết.
1.5. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0030742 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, vậy Bà Nguyễn Ngọc T đã nộp đủ án phí.
2. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn – Bà Nguyễn Ngọc T; bị đơn - Ông Bùi Hoàng B được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TPHCM; - VKSND Khu vực 6; - Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6; - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ (tk Thúy) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Xuân Duyên |