vanban.org

Bản án 11/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Th, xử cho chị Nguyễn Thị Th và anh La Bảo T được ly hôn.

Về con chung: Giao con chung là cháu La Thị Thanh Nh, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Nguyễn Thị Th có trách nhiệm trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh La Bảo T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh La Bảo T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Th, xử cho chị Nguyễn Thị Th và anh La Bảo T được ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2026/HNGĐ - ST.
Ngày: 22/01/2026.
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Luân

2. Bà Thạch Thị Lan Nhung.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Khắc Duy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 01 năm 2026, tại hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng (Cũ) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 271/2025/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025 và quyết định hoãn phiên Tòa số 01/2026/QĐST - DS ngày 07 tháng 01 năm 2026 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th. Sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số nhà 31/2, đường T, phường C, thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Anh La Bảo T. Sinh năm 1979.

Địa chỉ: Xóm 7, thôn P, xã T, tỉnh Lâm Đồng.

(Chị Th có đơn xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:

Chị và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2002, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Tân, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai cũ. Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do lối sống của anh T không chuẩn mực, không quan tâm chăm sóc cho vợ con. Anh T còn hay đánh bài nên ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình. Chị cũng tạo cơ hội cho anh T nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị xác định vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu La Thị Kim N, sinh ngày 02/02/2003, cháu La Đình B, sinh ngày 23/8/2004 và cháu La Thị Thanh Nh, sinh ngày 28/9/2015. Hiện nay cháu N, cháu B đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với cháu N thì chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cùng giấy triệu tập tham gia phiên tòa đối với anh La Bảo T nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lâm Đồng tham gia phiên Tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Th. Xử cho chị Nguyễn Thị Th và anh La Bảo T được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu La Thị Thanh Nh, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Th có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Th xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh La Bảo T vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vắng mặt chị Th, anh T theo thủ tục chung là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Th và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2007 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Tân, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (Cũ) vào năm 2007 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị Th xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên chị Th giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T. Chị Th cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do lối sống của anh T không chuẩn mực, không quan tâm chăm sóc cho vợ con. Anh T còn hay đánh bài nên ảnh hưởng đến kinh tế của gia đình. Chị cũng tạo cơ hội cho anh T nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T đều vắng mặt. Điều đó chứng tỏ anh T cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị Th. Bên cạnh đó vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay nhưng tình cảm vợ chồng anh chị vẫn không cải thiện được. Đồng thời qua xác minh được biết nguyên nhân phát mâu thuẫn của vợ chồng anh T, chị Th là anh T thường xuyên uống rượu, không lo làm ăn kinh tế và thường xuyên đánh đập chị Th. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Th, xử cho chị Th và anh T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Chị Th xác định vợ chồng anh chị có 03 con chung là cháu La Thị Kim N, sinh ngày 02/02/2003, cháu La Đình B, sinh ngày 23/8/2004 và cháu La Thị Thanh Nh, sinh ngày 28/9/2015. Hiện nay cháu N, cháu B đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Đối với cháu N thì chị yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy hiện nay cháu N, cháu B đã đủ tuổi trưởng thành và phát triển bình thường nên Tòa án không xem xét giải quyết giao các cháu cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng. Đối với cháu N đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với chị Th. Nên căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu La Thị Thanh Nh, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Th có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị Th không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Th xác định về tài sản chung vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Th xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Nguyễn Thị Th, xử cho chị Nguyễn Thị Th và anh La Bảo T được ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu La Thị Thanh Nh, sinh ngày 28/9/2015 cho chị Nguyễn Thị Th có trách nhiệm trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục theo nguyện vọng của con. Anh La Bảo T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Th đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0008438 ngày 14 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ