vanban.org

Bản án 11/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 18/02/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Bùi Việt H 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2024.

Về hình phạt bổ sung: Không. Về trách nhiệm dân sự: Không. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Việt H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Bùi Việt H 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2024.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HSST
Ngày 18-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Quang Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lương Văn Thoại

Ông Vũ Minh Long

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 03/02/2025 đối với bị cáo:

Bùi Việt H - Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm 1992; nơi sinh: Hà Nội; ĐKHKTT tại: Đường H, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 10/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Bùi Duy T và con bà: Bùi Thị H1; TATS: Theo danh chỉ bản số 602 ngày 18/12/2024 do Công an huyện G lập và lý lịch bị can thì bị cáo không có tiền sự và có 01 tiền án: Bản án số 101/2009/HSST ngày 29/04/2009 TAND quận B, Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội: Cướp giật tài sản và 07 năm tù về tội: Cướp tài sản, tổng hợp hình phạt 08 năm tù. Đã nộp án phí tại biên lai số 0008351 ngày 20/12/2012 tại chi cục THADS quận T, Hà Nội (đã được xóa án tích).

Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 06/12/2024; hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Hoàng Thị H2, sinh năm 1966; HKTT: Phường T, quận L, thành phố Hà Nội và chỗ ở hiện nay: KĐT V, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

2. Ông Vũ Văn D, sinh năm 1987; HKTT: Thôn P, xã N, huyện T, tỉnh Hải Dương và chỗ ở hiện nay: KĐT V, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản thân H lang thang không có nơi ở cố định, không có việc làm nên H nảy sinh ý định sang KĐT V, huyện G trộm cắp tài sản. Để thực hiện mục đích trên, khoảng 16 giờ ngày 03/12/2024, H đi xe buýt từ khu vực nội thành Hà Nội đến trước cửa nhà tại KĐT V, xã D phát hiện 01 xe đạp thể thao nhãn hiệu Giant màu xanh ngọc của bà Hoàng Thị H2 để trong sân, cửa cổng không khóa. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, H đi vào trong sân lấy xe đạp và đi sang khu vực nội thành Hà Nội bán cho người đàn ông không rõ nhân thân được 1.100.000 đồng và tiêu sài cá nhân hết.

Đến khoảng 14 giờ ngày 06/12/2024, H đi xe buýt từ nội thành Hà Nội đi đến trước Căn hộ N, KĐT V, xã D, huyện G, Hà Nội phát hiện chiếc xe đạp nhãn hiệu Magicbros màu đen của anh Vũ Văn D không có khóa bảo vệ. Quan sát xung quanh không có ai trông giữ, H lấy trộm chiếc xe đạp trên và bỏ đi. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày H đến công an xã D, huyện G đầu thú.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 303/KL-HĐĐGTS ngày 12/12/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện G kết luận:

+ 01 (Một) chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu Giant, màu xanh ngọc, đã qua sử dụng, mua năm 2021 tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 03/12/2024 trị giá 3.000.000 đồng;

+ 01 (Một) chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu Magicbros, màu đen, đã qua sử dụng, mua khoảng tháng 6/2024 tại thời điểm xảy ra vụ việc ngày 06/12/2024 trị giá 2.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSGL ngày 21/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố bị cáo Bùi Việt H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện G giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Về trách nhiệm hình sự áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Việt H: Từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày đầu thú 06/12/2024.

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự không xem xét giải quyết.

Nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng huyện G là hợp pháp.

- Về tội danh:

. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, bản Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ ngày 03/12/2024, tại trước cửa nhà KĐT V, xã D, huyện G, Hà Nội, bị cáo Bùi Việt H đã có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu Giant, màu xanh ngọc trị giá 3.000.000 đồng của bà Hoàng Thị H2. Khoảng 14 giờ ngày 06/12/2024, tại trước cửa Căn hộ N, KĐT V, xã D, huyện G, Hà Nội, bị cáo Bùi Việt H có hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe đạp thể thao nhãn hiệu Magicbros, màu đen, trị giá 2.500.000 đồng của ông Vũ Văn D.

Tổng giá trị tài sản Bùi Việt H trộm cắp là 5.500.000 đồng.

. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Do vậy, cần phải nghiêm trị đối với bị cáo.

. Hành vi của bị cáo Bùi Việt H đã có đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết tăng nặng: Nhân thân của bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 101/2009/HSST ngày 29/04/2009 TAND quận B, Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội: Cướp giật tài sản và 07 năm tù về tội: Cướp tài sản, tổng hợp hình phạt là 08 năm tù. Bị cáo đã nộp án phí tại biên lai số 0008351 ngày 20/12/2012 tại Chi cục THADS quận T, Hà Nội. Tiền án này của bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện G đề nghị truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về việc áp dụng hình phạt:

. Xét tính chất và mức độ hành vi phạm tội cùng nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tù trong khung hình phạt nhằm cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo vì bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên là có căn cứ.

- Về trách nhiệm dân sự:

. Ngày 13/01/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G ra quyết định xử lý vật chứng: Trao trả 01 xe đạp nhãn hiệu Magicbros màu đen cho ông Vũ Văn D, ông D đã nhận tài sản. Ông D và bà Hoàng Thị H2 không yêu cầu bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về hình phạt bổ sung:

. Xét thấy bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

. Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện G tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

- Về án phí:

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Về quyền kháng cáo:

. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Việt H 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/12/2024.

2. Về hình phạt bổ sung: Không.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Việt H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ