- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vừ A C phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN ––––––––––––––– Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 19 -12-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đao Thị Bích Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khắc Thiện
Ông Sùng Khoa Lồng
- Thư ký phiên tòa: ông Quàng Văn Long – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 4 - Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 19/12/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 24/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 08/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vừ A C (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác); Sinh ngày 01/01/1992 tại tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản Hồ Ch 2, xã NS, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vừ A H (Đã chết) và bà Sùng Thị M (Sinh năm 1971); Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: 01 (Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 22 tháng theo Quyết định số 12/2023/QĐ-TA ngày 06/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mường Ch, tỉnh Điện Biên, ngày 06/10/2024 chấp hành xong Quyết định, đến ngày thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này chưa được xóa tiền sự); Nhân thân: Bị cáo chưa bị Toà án kết tội; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/8/2025, tạm giam từ ngày 04/9/2025 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị Thơm, sinh năm 1984. Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vừ A C là người nghiện ma túy từ năm 2021. Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 26/8/2025 do lên cơn nghiện nên Vừ A C đi bộ nhà ở bản Hồ Ch 2 lên bản Hồ Ch 1, xã NS, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến đoạn đường Km21, Quốc lộ 4H thuộc bản Hồ Ch 1 thì thì Vừ A C gặp một người đàn ông không rõ lai lịch đang ngồi trên chiếc xe máy đừng bên đường, qua trao đổi C mua được 01 gói lớn, bên trong có 09 gói nhỏ Heroine với số tiền 200.000 đồng (là tiền C đi bán măng mà có). Mua bán xong người đàn ông đó đi đâu không rõ, còn Vừ A C lấy ra 01 (một) gói Heroine nhỏ ra sử dụng hết, C cất giấu số Heroine còn lại vào nếp gấp gấu áo bên tay trái rồi rồi đi bộ quay về nhà. Hồi 06 giờ 45 phút cùng ngày, khi Vừ A C di chuyển được khoảng 200 mét thì bị tổ công tác Công an xã NS phối hợp với Tổ công tác số 2 - Kế hoạch 1266 của Công an tỉnh Điện Biên phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 (một) gói nilon màu trắng đựng 08 gói nhỏ bọc nilon màu hồng, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng, Vừ A C khai nhận là Heroine.
Ngày 26/8/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên đã tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể đối với Vừ A C, kết quả xác định Vừ A C dương tính với chất ma tuý trong cơ thể. Qua điều tra đã xác minh làm rõ Vừ A C không thuộc trường hợp bị xem xét xử lý trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BL59). Cơ quan điều tra không thu giữ được công cụ, phương tiện nên không đủ căn cứ để xử lý vi phạm hành chính đối với bị cáo Vừ A C.
Tại Kết luận giám định số 898/KL-KTHS ngày 02/9/2025, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng gửi giám định thu giữ của Vừ A C ký hiệu từ M1 đến M8 có tổng khối lượng 0,45 gam là chất ma túy: Loại Heroin (Heroine). Hoàn lại đối tượng giám định còn lại 0,29 gam, có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.
Bản Cáo trạng số 13/CT-VKSKV4 ngày 21/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố Vừ A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 05 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo. Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,29 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 08 (tám) mảnh nilon hồng. Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến gì về hành vi và các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Nhất trí với Cáo trạng, lời luận tội của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng, việc miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ và nhân thân, hoàn cảnh phạm tội để xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nhất trí Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận. Bị cáo không có ý kiến bổ sung vào Bản Luận cứ bào chữa, không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Vào hồi 06 giờ 45 phút ngày 26/8/2025 tại khu vực Km21 Quốc lộ 4H thuộc bản Hồ Ch 1, xã NS tỉnh Điện Biên phối hợp với tổ công tác số 2 – Kế hoạch 1266 của Công an tỉnh Điện Biên đã kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Vừ A C đang thực hiện hành vi cất giấu trái phép trong nếp gấp gấu áo bên tay trái 0,45 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, Cáo trạng truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, không có chứng cứ chứng minh bị cáo không phạm tội. Do đó có đủ cơ sở để kết luận: Hành vi của bị cáo Vừ A C đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 26/08/2025 nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 để xét xử và quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những tiếp tay cho tội phạm về ma túy mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và các loại tội phạm hình sự khác, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Vừ A C chưa bị Tòa án kết tội nhưng đã từng bị xử lý vi phạm hành chính 01 lần mà chưa được xóa tiền sự. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự thấy rằng bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt đối với bị cáo: Từ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời hạn nhất định để bị cáo cải tạo bản thân đồng thời răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 05 tháng tù, người bào chữa cho bị cáo đề nghị xử phạt mức thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Nhưng xét xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nghề nghiệp của bị cáo là nông nghiệp nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng 0,45 gam Heroine thu giữ của Vừ A C sau khi gửi giám định còn lại 0,29 gam là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 08 (tám) mảnh nilon màu hồng đều là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ Luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và bị cáo, người bào chữa về việc miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Các vấn đề liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo do cơ quan điều tra không xác minh được lý lịch nên không đủ cơ sở để xử lý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bào chữa đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 03 (Ba) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 26/8/2025.
3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 0,29 gam Heroine còn lại sau giám định và 01 (một) mảnh nilon màu trắng, 08 (tám) mảnh nilon màu hồng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Điện Biên, tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/12/2025).
| Nơi nhận: - Phòng GĐ KT, TT & THA TAND Tỉnh ĐB; - VKSND tỉnh Điện Biên; - VKSND khu vực 4 – Điện Biên; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Điện Biên; - PC 04 (Phòng CSĐTTP về ma tuý) CA tỉnh Điện Biên); - PC 10 (THAHS) CA tỉnh Điện Biên; - Phân trại tạm giam NS; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ VA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đao Thị Bích Thảo |