vanban.org

Bản án 11/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Thị Ph 21 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/5/2025; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phượng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Thị Ph, vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2025/ HS-ST
Ngày 18 - 8 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Thị Thùy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Xuân và ông Nguyễn Văn Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Huệ, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng (Cơ sở 2) đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Phùng Thị Ph; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 06 tháng 9 năm 1983, tại xã Độc Lập, tỉnh Cao Bằng;

Nơi thường trú và nơi ở: xóm B, thị trấn Trà Lĩnh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm B, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng); Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Phùng Văn S (sinh năm 1959) và bà Nông Thị S (sinh năm 1962); Chồng: Bế Văn T (đã chết năm 2020); Bị cáo có 02 con: Bế Thị Trà M (sinh năm 2011) và Bế Khánh D (sinh năm 2014); Tiền án, tiền sự: Không;

Đặc điểm nhân thân: Ngày 30/11/2018 bị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 4 năm 6 tháng tù về Tội buôn bán hàng cấm. Ngày 01/9/2021 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/5/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực Trùng Khánh, Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 20 phút, ngày 22/5/2025, tại xóm N, thị trấn Trà Lĩnh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm N, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng) tổ công tác Công an xã Trà Lĩnh phối hợp với Công an xã Cao Chương phát hiện bắt quả tang Phùng Thị Ph, sinh năm 1983, trú tại xóm B, thị trấn Trà Lĩnh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm B, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng) có hành vi vận chuyển hàng cấm. Thu giữ 01 túi xách du lịch màu nâu được đặt ở sàn để chân phía trước bên trong có 12 khối hộp (nghi pháo dàn loại 36 ống); 01 túi du lịch màu nâu ở đuôi yên xe bên trong có 12 khối hộp (nghi pháo dàn loại 36 ống); 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Tecno spark, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, biển kiểm soát 11H1- 053.26 đã qua sử dụng. Phùng Thị Ph khai số pháo nổ trên là của một người phụ nữ Trung Quốc thuê vận chuyển từ khu vực biên giới ra đèo Mã Phục sẽ có người nhận và sẽ được hưởng tiền công là 1.500.000 đồng.

Hồi 09 giờ 00 cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phùng Thị Ph phát hiện thu giữ tại buồng ngủ 01 túi ni lông bên trong có 02 vật hình trụ tròn màu đỏ (nghi pháo dây). Ph khai số pháo này cùng với số pháo bắt quả tang do một người phụ nữ Trung Quốc thuê vận chuyển.

Hồi 15 giờ 00 ngày 22/5/2025, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong cân khối lượng vật chứng: Vật chứng bắt quả tang có khối lượng 32,2 kg; vật chứng khi khám xét có khối lượng 4,2 kg. Tổng khối lượng 36,4 kg. Cơ quan điều tra tiến hành niêm phong lại toàn bộ vật chứng gửi trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 242/KL-KTHS ngày 28/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Các mẫu vật gửi giám định đều là pháo nổ (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Ngày 23/5/2025, Cơ quan điều tra tiến hành tạm giữ đối với Bế Văn T, sinh năm 1981, trú tại xóm B, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng là em chồng Phùng Thị Ph: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 004320, biển số đăng ký 11H1-053.26 để phục vụ công tác điều tra.

Tại cơ quan điều tra, Phùng Thị Ph khai, khoảng 11 giờ ngày 21/5/2025, một người phụ nữ Trung Quốc tên là H gọi qua ứng dụng Wechat thuê Ph vận chuyển pháo từ khu vực biên giới Việt Nam - Trung Quốc ra đèo Mã Phục thuộc xóm C, xã Quốc Toản, huyện Quảng Hoà, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm C, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng), xong việc sẽ trả tiền công 1.500.000 đồng. Ph đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Ph đi xe mô tô vào khu vực biên giới thuộc xóm P, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng cách mốc biên giới khoảng 200m nhận 01 bao tải dứa màu xanh bên trong chứa 12 hộp pháo dàn loại 36 ống với một người đàn ông không quen biết vận chuyển về nhà cất giấu. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Ph tiếp tục đi xe mô tô vào khu vực biên giới nhận 01 bao tải dứa màu xanh với người đàn ông không quen biết bên trong có 12 hộp pháo dàn loại 36 ống và 02 cuộn pháo dây vận chuyển về nhà cất giấu. Buổi tối cùng ngày, bà H gọi qua Wechat bảo Ph vận chuyển 24 hộp pháo loại 36 ống ra quán nước của nhà nghỉ ở Đèo Mã Phục sẽ có người đến nhận, còn 02 cuộn pháo dây sẽ vận chuyển sau. Sáng ngày 22/5/2025, Ph lấy 24 hộp pháo cho vào 02 túi (loại túi du lịch) rồi cho lên xe mô tô chở ra Đèo Mã Phục, khi đến khu vực cầu Nà Thấu thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng còn lại của vụ án được Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 ra Quyết định chuyển vật chứng đến Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 để đảm bảo việc xét xử vụ án.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSKV3, ngày 15 tháng 7 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Phùng Thị Ph về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận diễn biến hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố, không có ý kiến khiếu nại đối với các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 11H1 - 053.26, màu sơn vàng đen, đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, 01 giấy đăng ký xe); 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu TECNO SPARK màu trắng - xanh đã qua sử dụng có gắn 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0378.224.227 và 02 túi du lịch và túi ni lông, bị cáo có sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.

Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức khi thực hiện hành vi của mình nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Phùng Thị Ph. Xử phạt bị cáo Phùng Thị Ph từ 01 năm tù đến 02 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đề nghị:

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 11H1 - 053.26, màu sơn vàng đen, đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, 01 giấy đăng ký xe số 004320 và 01 phiếu trả lời xác minh xe máy); 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu TECNO SPARK màu trắng - xanh số IMEI 1: 356122843682222; IMEI 2: 356122843682230 đã qua sử dụng, điện thoại có gắn 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0378.224.227 tạm giữ đối với Phùng Thị Ph;

Tịch thu tiêu hủy: 02 túi du lịch và túi ni lông, bị cáo có sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo, các yếu tố cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo Phùng Thị Ph nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở để kết luận: Hồi 07 giờ 20 phút ngày 22/5/2025, tại xóm N, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an thị trấn Trà Lĩnh phối hợp với Công an xã Cao Chương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (nay là Công an xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng) phát hiện bắt quả tang Phùng Thị Ph đang vận chuyển 32,2 kg pháo nổ.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở Phùng Thị Ph thu giữ 4,2 kg pháo nổ.

Tổng cộng 36,4 kg pháo nổ. Phùng Thị Ph khai vận chuyển thuê toàn bộ số pháo này cho một người phụ nữ Trung Quốc (không biết đầy đủ họ tên, địa chỉ cụ thể) để kiếm lời.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe con người, là nguồn nguy hiểm gây ra các vụ cháy và gây mất trị an trong xã hội; trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông (kinh doanh). Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng địa hình phức tạp, vắng vẻ ít người qua lại, cố ý thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm (pháo). Mục đích vận chuyển pháo để kiếm lợi nhuận cho bản thân.

Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Phùng Thị Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:

- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Phùng Thị Ph thành khẩn khai báo, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con nhỏ dưới 16 tuổi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về nhân thân: Trước khi phạm tội, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 30/11/2018 bị Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 4 năm 6 tháng tù về Tội buôn bán hàng cấm. Ngày 01/9/2021 chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phùng Thị Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” và xử phạt bị cáo từ 01 năm tù đến 02 năm tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Các nhận định khác:

Đối với người thuê Phùng Thị Ph vận chuyển pháo tên H, do không biết họ, năm sinh và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý ở vụ án khác là đúng quy định của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nguồn thu nhập ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 11H1 - 053.26, màu sơn vàng đen, đã qua sử dụng (kèm theo 01 chìa khóa xe, 01 giấy đăng ký xe và 01 phiếu trả lời xác minh xe máy); 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu TECNO SPARK màu trắng - xanh IMEI 1: 356122843682222; IMEI 2: 356122843682230 đã qua sử dụng có gắn 01 thẻ sim Viettel số thuê bao 0378.224.227 bị cáo có sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; Đối với túi du lịch và túi ni lông bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Ph phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 đối với bị cáo Phùng Thị Ph.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Thị Ph 21 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 22/5/2025;

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phượng.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát 11H1 - 053.26, màu sơn vàng - đen, đã qua sử dụng, trong cốp xe không có đồ vật, tài sản gì (kèm theo 01 chìa khóa xe, 01 giấy đăng ký xe số 004320 và 01 phiếu trả lời xác minh xe máy); 01 (một) phong bì thư niêm phong. Mặt trước phong bì ghi “ 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu TECNO SPARK màu trắng - xanh, số IMEI 1: 356122843682222; IMEI 2: 356122843682230, đã qua sử dụng. Điện thoại di động có gắn 01 (một) thẻ sim Viettel, có số thuê bao 0378.224.227”. Mặt sau phong bì có chữ ký của Phùng Thị Ph, các thành phần tham gia biên bản và được đóng 04 (bốn) hình con dấu màu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng. Có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng hình dấu màu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thùng cát tông niêm phong. Trên bề mặt ghi “vật chứng túi du lịch và túi ni lông vụ Phùng Thị Ph”. Có chữ ký giáp lai của Phùng Thị Ph, những người tham gia biên bản và đóng hình dấu màu mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng (Nay là Phòng Thi hành án dân khu vực 3 - Cao Bằng) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2025.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phùng Thị Ph phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo Phùng Thị Ph có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ