vanban.org

Bản án 11/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 19/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh V và bị cáo Nguyễn Văn B phạm Tội cố ý gây thương tích.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B và Trần Minh V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh V và bị cáo Nguyễn Văn B phạm Tội cố ý gây thương tích.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày 19 tháng 8 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Ngô Huỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Trường

2. Ông Đặng Thành Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Mộng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn B, sinh năm 1947 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay thuộc ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: nông dân; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ú (chết) và bà Hồ Thị B1 (sống); bị cáo có vợ và 04 người con; tiền án, tiền sự: không

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Trần Minh V, sinh năm 1982 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay thuộc ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Minh H (sống) và bà Trần Thị N (chết); bị cáo có vợ và 02 người con; tiền án, tiền sự: không.

Về nhân thân: Ngày 29/10/2009, Trần Minh V bị Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật hình sự. Đã chấp hành xong và được xóa án tích.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Luật sư Võ Minh T thuộc Văn phòng L – Đoàn luật sư thành phố C bào chữa cho bị cáo Trần Minh V.

- Bị hại:

+ Đối với hành vi gây thương tích 19% của bị cáo Trần Minh V: Bị hại Nguyễn Văn B

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay thuộc ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ)

+ Đối với hành vi gây thương tích 3% của bị cáo Nguyễn Văn B: Bị hại Trần Minh V

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay thuộc ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ)

- Ngưới có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn V1, sinh năm 1973 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay thuộc ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/12/2024, ông Nguyễn Văn B nhổ cây mít giống mới trồng tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ) của ông Trần Minh V. Sau khi nhổ cây mít ông B đến nhà ông Nguyễn Văn V1, nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ). Khi biết ông B nhổ cây mít, ông V cùng với vợ là Nguyễn Thị K và ông Nguyễn Trường X cùng đến gặp ông B để nói chuyện thì giữa V và B xảy ra cự cải. Ông B rút cây dao dài 31cm (loại dao yếm, nhọn về phía mũi) đang giấu trong người, đâm 01 cái về phía vợ chồng ông V thì trúng cẳng tay trái của ông V. Ông V về nhà ông Trần Minh H là cha của ông V để băng bó vết thương. Khoảng 30 phút sau, ông B tiếp tục nhổ cây mít giống mới trồng của ông V. V đi đến nhà ông B để nói chuyện nên B và V tiếp tục cự cải, V lấy khúc cây (gỗ) đã khô dài 60cm, đường kính đầu lớn 07cm, đầu nhỏ 04cm, nặng 340gam đánh trúng chân trái của ông B.

Hậu quả: Ông V bị thương cẳng tay trái. Ông B bị thương cẳng chân trái và ngón III bàn tay phải. Ông B và V đến Trung tâm Y tế huyện C, tỉnh Hậu Giang điều trị vết thương. Sau đó, ông B được chuyển đến Bệnh viện Đ điều trị.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 117/KLTTCT-TTPY ngày 24/4/2025 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh H, kết luận tỷ lệ thương tích vết sẹo phần mềm cẳng tay trái của ông Trần Minh V là 03%, do vật sắc nhọn gây nên.

Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 118/KLTTCT-TTPY ngày 24/4/2025 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh H, kết luận tỷ lệ thương tích của ông Nguyễn Văn B là 20%.

Cụ thể: Vết sẹo mặt sau đốt giữa ngón III bàn tay phải là 01%, do vật tày có cạnh tác động gián tiếp gây nên. Vết sẹo phẫu thuật mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái là 02%. Vết sẹo phẫu thuật mặt trước 1/3 dưới cẳng chân trái: 03%. Chấn thương 1/3 dưới cẳng chân trái (gãy 1/3 dưới xương chày trái) là 15%, do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 18/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Giá trị 42 cây mít giống (loại mít ruột đỏ) là 1.512.000 đồng.

Quá trình điều tra, Trần Minh V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với tài liệu, chứng cứ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H đã thu thập. Bị cáo Trần Minh V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; có người thân được công nhận là liệt sĩ. Bị cáo Nguyễn Văn B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội trong trường hợp là người đủ 70 tuổi trở lên.

Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ:

- 01 cây dao dài 31cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sáng dài 18,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 12,5cm, nhọn về phía mũi, đã qua sử dụng.

- 01 khúc cây gỗ khô dài 60cm, đường kính đầu lớn 7cm, đường kính đầu nhỏ 4cm, bị gãy thành hai khúc và vỡ thành bốn mảnh (khúc cây nặng 340gam).

Các vật chứng hiện đang quản lý tại kho vật chứng theo đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn B yêu cầu bị cáo Trần Minh V bồi thường 120.000.000 đồng, bị cáo Trần Minh V đã bồi thường 20.000.000 đồng; Bị hại Trần Minh V không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B bồi thường chi phí điều trị thương tích, đối với cây trồng bị hủy hoại, không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B bồi thường thiệt hại.

Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thừa nhận hành vi của mình như cáo trạng đã truy tố.

Bị hại Nguyễn Văn B yêu cầu bị cáo Trần Minh V bồi thường thêm 30.000.000 đồng, bị cáo V thống nhất bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị hại Trần Minh V không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Minh V đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo V được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát tại Tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Minh V từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn B và Trần Minh V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời thừa nhận của các bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với cơ chế hình thành thương tích, đồng thời phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở để Hội đồng xét xử khẳng định:

Sau khi ông Nguyễn Văn B nhổ cây mít mới trồng tại ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay là ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ) của ông Trần Minh V thì khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/12/2024, ông V và ông B xảy ra cự cãi. Ông B rút cây dao dài 31cm đâm 01 cái trúng cẳng tay trái của ông V gây thương tích 03%. Ông V về băng bó vết thương, khoảng 30 phút sau quay lại thấy ông B nhổ mít nên hai bên tiếp tục cự cãi, ông V lấy khúc cây (gỗ) đã khô dài 60cm, đường kính đầu lớn 07cm, đầu nhỏ 04cm, nặng 340gam đánh trúng chân trái của ông B gây thương tích 19%. Nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Cần Thơ truy tố các bị cáo theo điều khoản và tội danh đã nêu trong cáo trạng là phù hợp.

Các bị cáo biết việc dùng hung khí nguy hiểm đánh vào cơ thể người khác thì sẽ dẫn đến thương tích, thậm chí có thể ảnh hưởng đến tính mạng, nhưng vẫn cứ làm và mong muốn cho hậu quả xảy ra, nên đây là lỗi cố ý của các bị cáo. Giữa các bị cáo không có mâu thuẫn gì lớn, nhưng các bị cáo lại sử dụng phương thức bạo lực để giải quyết vấn đề. Điều đó thể hiện sự hung hăng, xem thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, cần phải có mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo.

Đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B, là người gây sự trước, lẻ ra với tuổi đời lớn hơn Trần Minh V rất nhiều, bị cáo phải cư xử đúng mực, đúng pháp luật, nhưng chỉ vì mâu thuẫn trong việc tranh chấp tài sản dẫn đến xâm phạm sức khoẻ của Trần Minh V. Bị cáo B đã dùng dao đâm vào tay trái của Trần Minh V gây thương tích 03%. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, trong suốt quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo (có mức độ), ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khi phạm tội bị cáo đã trên 70 tuổi; ngoài ra trong vụ án này bị cáo còn với tư cách là bị hại, bị Trần Minh V đánh gãy chân trái với thương tích 19%. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị tỷ lệ thương tật cao và phải có thời gian để phục hồi sức khoẻ nên Hội đồng xét xét thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo.

Đối với hành vi của bị cáo Trần Minh V, ngay sau khi bị cáo Nguyễn Văn B dùng dao gây thương tích cho bị cáo và có hành động mà bị cáo V cho là xâm phạm tài sản của bị cáo nên bị cáo đã dùng khúc gỗ gây thương tích cho Nguyễn Văn B. Thay vì lựa chọn xử lý mâu thuẫn một cách ôn hoà, bị cáo lại sử dụng phương thức bạo lực để đáp trả đối với hành vi của ông Nguyễn Văn B. Hậu quả xảy ra thương tích cho ông B là 19 %, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của bị cáo.

Bị cáo Trần Minh V có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt 08 năm tù về Tội cướp tài sản. Bị cáo vẫn không rút ra bài học cho bản thân. Do đó, cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường 20.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn B và gia đình bị cáo có công với cách mạng. Mặt khác, sự việc xảy ra xuất phát từ hành vi ngang ngược, càn quấy của ông Nguyễn Văn B chính ông B là người gây ra thương tích cho bị cáo V trước. Nên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo V có 02 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng. Để thể hiện sự nhân đạo của pháp luật, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo.

Đối với hành vi hủy hoại tài sản của ông Nguyễn Văn B không đủ định lượng, đồng thời ông B chưa bị xử phạt hành chính hoặc bị kết án về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên không có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Về Vật chứng:

- 01 cây dao dài 31cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sáng dài 18,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 12,5cm, nhọn về phía mũi, đã qua sử dụng.

- 01 khúc cây gỗ khô dài 60cm, đường kính đầu lớn 7cm, đường kính đầu nhỏ 4cm, bị gãy thành hai khúc và vỡ thành bốn mảnh (khúc cây nặng 340gam).

Là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Minh V không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn B bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Tại phiên toà bị hại Nguyễn Văn B yêu cầu bị cáo Trần Minh V bồi thường thêm 30.000.000 đồng. Bị cáo Trần Minh V thống nhất bồi thường cho ông B 30.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo V.

Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Minh V phải chịu 1.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh V và bị cáo Nguyễn Văn B phạm Tội cố ý gây thương tích.

Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã P, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Trần Minh V 01 (một) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về Vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tịch thu tiêu huỷ:

- 01 cây dao dài 31cm, lưỡi dao bằng kim loại màu sáng dài 18,5cm, cán dao bằng nhựa màu đen dài 12,5cm, nhọn về phía mũi, đã qua sử dụng.

- 01 khúc cây gỗ khô dài 60cm, đường kính đầu lớn 7cm, đường kính đầu nhỏ 4cm, bị gãy thành hai khúc và vỡ thành bốn mảnh (khúc cây nặng 340gam). Theo phiếu nhập kho số Nk/2025/119 ngày 08/8/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Buộc bị cáo Trần Minh V bồi thường cho ông Nguyễn Văn B 30.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Minh V phải chịu 1.500.000 đồng.

Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ