- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc L: “Cố ý gây thương tích” - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cố ý g y thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 12-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Văn Cang và ông Huỳnh Khắc Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Nguyệt – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2025, tại điểm cầu trung t m tại Trụ sở Tòa án nh n d n khu vực 11 – Đắk Lắk và điểm cầu thành phần tại Ph n trại tạm giam khu vực 01, Trại tạm giam số 02 – Công an tỉnh Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc L; Tên gọi khác: Trợn; Giới tính: Nam; Sinh năm 1993. Nơi cư trú: thôn Xu n Dục, phường Bình Kiến, tỉnh Đắk Lắk. Quốc tịch: Việt Nam; D n tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên cha: Phạm Văn N (chết); Họ và tên mẹ: Phan Thị L, sinh năm 1974; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 12/01/2022 đến ngày 31/12/2022: cai nghiện ma túy tự nguyện tại Cơ sở cai nghiện ma túy và Trợ giúp xã hội tỉnh Phú Yên. Chấp hành xong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú ngày 02/01/2024;
- Ngày 28/9/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuy Hòa ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Cố ý g y thương tích theo quy định tại điểm a, d khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 30/01/2024, Tòa án nh n d n thành phố Tuy Hòa ra quyết định đình chỉ vụ án theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Ngày 13/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk tiếp nhận thụ lý, giải quyết nguồn tin vụ việc Phạm Ngọc L có hành vi đập phá làm hư hỏng tài sản trong gia đình và dùng bình gas đốt cháy nhà bếp của gia đình xảy ra trong tháng 4 năm 2025.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/4/2025 tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Đắk Lắk. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Phan Thị L, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Ông Phạm Văn N, sinh năm 1979; Trú tại: Thôn X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt tại phiên tòa
2. Ông Phạm Ngọc S, sinh năm 2004; Trú tại: Thôn X, phường B, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/01/2025, tại nhà thuộc thôn X, phường B, tỉnh Đắk Lắk, Phạm Ngọc L nhớ lại chuyện mẹ ruột là bà Phan Thị L, nói L không chịu kiếm việc làm, L bực tức dùng ch n đá đồ đạc, la lớn tiếng trong nhà. Lúc này, bà L ở gần nhà nghe tiếng la của L nên đi về nhà. Khi đến giữa sân nhà, bà L thấy L đi từ trong nhà ra, trên tay cầm 01 tô cơm, bà L hỏi thì L ném tô cơm xuống s n. L chạy vào hiên nhà lấy 01 viên gạch ống loại 04 lỗ, kích thước (18,5 x 8 x 8) cm, bà L bỏ chạy, L đuổi theo ném viên gạch trúng vào gót ch n trái của bà L làm đứt g n, vỡ xương gót ch n trái. L cầm 01 cái cuốc trên s n dọa bà L, bà L đi qua nhà ông Phạm Văn N trốn, được anh Phạm Ngọc S đưa bà L đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Phú Yên.
Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 83 ngày 15/3/2025 của Trung t m pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Thị Liên là 24%, do vật có cạnh g y ra.
Vật chứng vụ án đang tạm giữ: 01 viên gạch ống loại 04 lỗ có kích thước (18,5x8x8); 01 cái cuốc có chiều dài, có cán bằng tre tròn dài 128 cm, trong đó phần lưỡi cuốc có diện tích (18x16) cm
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSKV11 ngày 10/7/2025 của Viện kiểm sát nh n d n khu vực 11 – Đắk Lắk đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cố ý g y thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Phạm Ngọc L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nh n dân khu vực 11 – Đắk Lắk sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nh n th n của bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cố ý g y thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/4/2025. Về trách nhiệm d n sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch ống loại 04 lỗ có kích thước (18,5x8x8); Đề nghị trả lại cho bị hại Phan Thị Liên 01 cái cuốc có chiều dài, có cán bằng tre tròn dài 128 cm, trong đó phần lưỡi cuốc có diện tích (18x16) cm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Phú Yên (nay là Công an tỉnh Đắk Lắk), Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Vì vậy, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 02/01/2025 tại thôn X, phường B, tỉnh Đắk Lắk, Phạm Ngọc L vì nguyên cớ nhỏ nhặt đã có hành vi dùng viên gạch ống ném trúng gót ch n trái mẹ ruột Phan Thị L, g y thương tích tỷ lệ 24%.
Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý g y thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự nên cáo trạng Viện kiểm sát nh n d n khu vực 11 – Đắk Lắk truy tố bị cáo và luận tội của kiểm sát viên tại phiên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã x m phạm đến sức khỏe của người bị hại trái pháp luật, đồng thời g y mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có nh n th n xấu, giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ là mẹ con ruột nhưng vì nguyên cớ nhỏ nhặt mà bị cáo đã có hành vi vô cớ dùng viên gạch ống là hung khí nguy hiểm ném trúng gót chân trái của bị hại, hậu quả gây thương tích cho bị hại tỷ lệ 24%, hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ. Bị cáo phạm tội với 03 tình tiết định khung: dùng hung khí nguy hiểm; phạm tội đối với mẹ ruột và có tính chất côn đồ được quy định tại điểm a, d, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm d n sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì vì là mẹ con ruột nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thống nhất xử lý như đề nghị của Kiểm sát viên.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Cố ý g y thương tích”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2015).
Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc L 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 12/4/2025.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch ống loại 04 lỗ có kích thước (18,5x8x8); Trả lại cho bị hại Phan Thị L 01 cái cuốc có chiều dài, có cán bằng tre tròn dài 128 cm, trong đó phần lưỡi cuốc có diện tích (18x16) cm (theo biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 21/7/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Đắk Lắk và Phòng Thi hành án d n sự khu vực 11 – Đắk Lắk).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - PV 06 – Công an tỉnh Đắk Lắk; - Cục Thi hành án d n sự tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 11- Đắk Lắk; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Minh Nhật |