vanban.org

Bản án 11/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Thanh T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 27/11/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bc T- trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1-VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST
Ngày: 23-7-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1-VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường

Ông Trần Văn Mỹ Phúc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/HSST-QĐ ngày 03 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Quang Thanh T, sinh ngày 25/02/1990; Thẻ CCCD: 079090018789; tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nơi cư trú: 7, đường L, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là: 75/32/10, đường L, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh); trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Quang T1, sinh năm: 1969; con bà Phạm Thị Tuyết Đ, sinh năm: 1971; Anh chị em ruột: có 04 người kể cả bị cáo; Vợ, con: Không.

Tiền án: 02 lần: Ngày 20/12/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa xóa án tích); Ngày 29/4/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/02/2024, chưa xóa án tích).

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27 tháng 11 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1991. (có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (nay là: ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long).

Địa chỉ liên hệ: số nhà B, đường C, Khóm C, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (nay là: số nhà B, đường C, Khóm C, phường T, tỉnh Vĩnh Long).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Đoàn Minh S, sinh năm 1993. Nơi cư trú: số nhà B, Khóm A, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (nay là: số nhà B, Khóm A, phường P, tỉnh Vĩnh Long). Vắng mặt.

2. Bà Diệp Cẩm S1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: số nhà B, Khóm A, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (nay là: số nhà B, Khóm A, phường P, tỉnh Vĩnh Long). Vắng mặt.

3, Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1992. Nơi cư trú: số nhà A, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là: số nhà A, H, phường T, tỉnh Vĩnh Long). Vắng mặt.

4. Ông Nguyễn Thành H, sinh năm 2000. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là: khóm T, phường T, tỉnh Vĩnh Long). Vắng mặt.

5. Ông Trịnh Lê Phúc T4, sinh năm 1996. Nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là: ấp P, xã P, tỉnh Đồng Tháp). Vắng mặt.

6. Bà Phạm Thị Tuyết N, sinh năm 1980. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là: ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ ngày 23/11/2024, bị cáo Nguyễn Quang Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 64K2-3135 đi từ nhà cậu của T tên là Phạm Minh P, sinh năm: 1984, tại số F, Đ, Phường H, thành phố V đến nhà trọ số B, đường C, Phường H, thành phố V để tìm người bạn tên T5. Khi đi đến trước phòng trọ của T5 thì T5 đang ngủ, Tú định đi về thì nhìn thấy phòng trọ của anh Nguyễn Hoàng T2, sinh năm: 1991 (cách phòng trọ của T5 01 phòng bên tay trái) đang khóa cửa, T nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của anh T2, nên T đợi đến khi anh T2 chạy xe đi thì T quan sát xung quanh không có ai nên T lấy một cây đoản sắt hình chữ L vặn bung ổ khóa cửa rồi bỏ cây đoản cùng ổ khóa vào túi quần, T đi vào phòng trọ của anh T2 thấy một cái cặp học sinh màu hồng để trên nền gạch T đổ hết tập sách ra cầm cặp đi vào phòng ngủ thấy một túi xách màu nâu trên nền gạch có dây đeo chéo, mở túi xách ra thấy có một cái laptop thì T lấy trộm túi xách đeo vào người, rồi lấy 01 bóp da nữ đang treo trên tường và 02 bóp da nữ để trên kệ cất vào cặp học sinh, Tú đi T6 ra phòng khách lấy 03 chai nước hoa, 01 chai sữa tắm hiệu Charm màu vàng trên kệ rồi cất vào cặp học sinh. T đi ra khỏi phòng trọ của anh T2 rồi điều khiển xe mô tô chạy ra hướng cầu C ra cây xăng số 8, khi đi đến khu đất trống thuộc Khóm E, Phường H, thành phố V, T dừng xe lại kiểm tra tài sản vừa lấy trộm được thì thấy trong túi xách màu nâu có một túi màu đen đựng một laptop hiệu HP màu bạc, cục sạc, dây sạc và chuột máy tính; trong ngăn nhỏ của túi xách màu nâu có 7.600.000 đồng và một túi vải đỏ có chứa 04 chiếc nhẫn vàng trơn loại 24k gồm (03 chiếc nhẫn 02 chỉ, 01 chiếc nhẫn 01 chỉ); 03 chai nước hoa (01 chai màu xám, 01 chai màu xanh đen, 01 chai nắp màu xanh); 01 chai sữa tắm màu vàng đồng. Tại đây, T ném bỏ 02 chai nước hoa do đã sử dụng gần hết; 03 bóp da nữ, túi xách màu nâu có dây đeo chéo và ổ khóa đã sử dụng nhà anh T2. T cầm tài sản vừa trộm được điều khiển xe mô tô chạy đến nhà của bạn tên Đoàn Minh S, sinh năm: 1993, tại số B Khóm A, Phường C, thành phố V để nhờ S cầm laptop dùm thì S đồng ý, nên S lấy laptop đi qua nhờ anh Diệp Cẩm S1 (ở gần nhà của S) chở S đi đến tiệm C gặp chủ tiệm cầm đồ tên Nguyễn Thanh T3, sinh năm: 1992, tại ấp H, xã T, huyện L, Vĩnh Long kêu cầm laptop với số tiền là 2.000.000 đồng (nếu sau 02 ngày không đến chuộc lại thì chủ tiệm có quyền bán). Trong lúc đợi S đi cầm laptop T ở nhà S một mình lấy 04 chiếc nhẫn vàng vừa trộm được ra kiểm tra thì thấy có 02 nhẫn vàng trơn loại 02 chỉ (T cầm thấy nhẹ hơn 02 chiếc còn lại nên nghĩ là giả) còn 01 nhẫn vàng trơn loại 02 chỉ và 01 chiếc nhẫn vàng trơn loại 01 chỉ thì là thật T cất vào trong túi quần còn 02 chiếc nhẫn T nghĩ là giả T bỏ vào túi vải đỏ, bỏ vào cặp học sinh chờ tìm nơi vứt bỏ.

Khi S đi cầm laptop về đưa cho T 2.000.000 đồng, T nhận tiền rồi điều khiển xe chạy về, trên đường về đến đoạn đường trước nhà số B, Khóm A, Phường C, thành phố V Tú ném bỏ cặp học sinh bên trong có túi vải màu đỏ đựng 02 chiếc nhẫn vàng mà T nghi là giả xuống cặp đường đal. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi đến tiệm game bắn cá gần cây xăng N2 thuộc phường T, thành phố V, thì gặp Nguyễn Thành H, sinh năm: 2000, ở số F, ấp T, xã T, huyện L, Vĩnh Long nên T cho H mượn xe mô tô biển số 64K2-3135 để H làm phương tiện đi lại. T mua thẻ điểm game bắn cá chơi hết 3.000.000 đồng. Tiếp theo T điện thoại cho bạn tên thường gọi là T7 già (không biết họ tên và địa chỉ cụ thể) để bán vàng được 21.000.000 đồng. Sau khi bán vàng xong T đi xe ôm về nhà dì ruột tên Phạm Thị Tuyết N, ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp chơi và tiêu xài hết tiền.

Đối với anh Nguyễn Hoàng T2 sau khi đi công việc về đến nhà trọ khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày thì phát hiện bị mất tài sản nên trình báo Công an P1, thành phố V biết lập biên bản sự việc để xử lý. Đến sáng ngày 25/11/2025, T mượn xe mô tô biển số 66CA-138.35 của bà N để đi thăm Nguyễn Thị Thanh B (T và B sống chung như vợ chồng không có đăng ký kết hôn). Khi gặp B nói chuyện được một lúc thì T lấy chai sữa tắm vừa trộm được tặng cho B. Sau đó thì T bị Cơ quan công an mời về làm việc, T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo kết luận định giá tài sản số 55 ngày 10/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố V, kết luận: "04 chiếc nhẫn vàng trơn loại 24k, trọng lượng 07 chỉ có giá trị là 60.270.000 đồng; một máy tính hiệu HP, màu bạc, ram 8gb, ổ cứng 256gb, màn hình 13,3inch, bộ sạc chuột đi kèm có giá trị là 6.000.000 đồng; một chai sữa tắm Lactobionic Charm 220ml, chưa qua sử dụng có giá trị là 100.000 đồng". Tổng giá trị tài sản mà T lấy trộm là 66.270.000 đồng.

Đến ngày 27/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Quang Thanh T về tội trộm cắp tài sản để điều tra cho đến nay.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh được: Qua điều tra Nguyễn Quang Thanh T còn khai nhận: Trước đó T cùng một người bạn tên L1 có lấy trộm 01 chiếc xe mô tô của người khác tại xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã làm văn bản gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản cáo trạng số: 45/CT-VKSNDTPVL ngày 21/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo Nguyễn Quang Thanh T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long tham gia xét xử đã nêu quan điểm luận tội: Khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Thanh T từ 04 năm đến 05 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được gia đình Nguyễn Quang Thanh T bồi thường 66.970.000 đồng, không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Ba (03) nón bảo hiểm (gồm: 01 nón màu đen, 01 nón màu xám, 01 nón màu đen sọc trắng; Một (01) nón kết màu đỏ có chữ “EMPORIO ARMNI"; Hai (02) cây đoản kim loại, màu trắng sáng hình chữ L dài 13,5cm; Một (01) nón lưỡi trai màu đen có chữ "adidas”; Một (01) đôi dép đế màu nâu, quai màu đen hình chữ “H”, trên dép có chữ "Hishoo - birken"; Một (01) áo khoác dài tay màu xám, trên áo có chữ “FSHIONME"; Một (01) áo khoác dài tay màu đen, tay trái áo có bốn sọc trắng, trên áo có chữ “JULIDO", có mũ trùm đầu; Một (01) đoản kim loại màu trắng sáng dài 0,7cm; Một (01) chìa khóa 8-10 bằng kim loại bên trên có chữ VENUS dài 11,5cm.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Một (01) xe mô tô biển số 94B1-029.38 màu xanh đen, không bửng, không đồng hồ xe, xe đã qua sử dụng, không có kiểm tra máy, có niêm phong chữ ký của Huỳnh Thị Yến N1 và Trương Văn T8; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành trộm cắp tài sản của mình đúng như cáo trạng đã nêu và đồng ý với tội danh mà bị cáo bị truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, trong phần nói lời sau cùng: bị cáo rất ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của mình, hứa cải tạo thành người tốt, kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long) và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 23/11/2024 bị cáo Nguyễn Quang Thanh T đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của anh Nguyễn Hoàng T2, tổng giá trị tài sản mà T lấy trộm là 73.870.000 đồng. Lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, vật chứng được thu hồi cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa, nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Vĩnh Long) truy tố bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức được tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác phải được mọi người tôn trọng, được pháp luật bảo vệ, nếu ai xâm phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Bị cáo là thanh niên trẻ, có đủ sức khỏe để lao động tạo ra của cải vật chất phục vụ bản thân nhưng vì muốn có tài sản tiêu xài mà không phải lao động cực nhọc, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại một cách cố ý gây mất trật tự tại địa phương và tâm lý lo lắng trong Nhân dân.

Bản thân bị cáo T có 02 lần tiền án về tội trộm cắp tài sản: Ngày 20/12/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết định khung hình phạt là “có tính chất chuyên nghiệp” (07 lần) đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa xóa án tích; Ngày 29/4/2021, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và tiếp tục bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt là “có tính chất chuyên nghiệp” (đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/02/2024 nhưng chưa xóa án tích). Nay bị cáo T lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” với lỗi cố ý, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp và xem đây là nguồn thu nhập để sinh sống nên lần phạm tội này cũng phải chịu tình tiết định khung hình phạt là “Có tính chất chuyên nghiệp”.

Xét thấy, thời gian bị cáo chấp hành án dài đủ để bị cáo cải tạo, học tập, rèn luyện bản thân trở thành người công dân tốt cho gia đình và xã hội nhưng bị cáo không ăn năn, hối cải mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, khó cải tạo, nên lần phạm tội này cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới cải tạo bị cáo thành người tốt, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật thà khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với Đoàn Minh S và Diệp Cẩm S1 có đem laptop do T đưa đi cầm dùm. Cả hai đều không biết laptop do T trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý; Đối với anh Nguyễn Thanh T3 có cầm laptop nhưng đến hẹn mà không có người đến chuộc lại nên anh T3 đã bán laptop cho một người khác không rõ họ tên và địa chỉ ở đâu, bản thân anh T3 cũng không biết laptop là do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý; Đối với xe mô tô biển số 66CA-138.35 của bà Phạm Thị Tuyết N cho T mượn đi thăm Nguyễn Thị Thanh B (chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn) không có liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho bà N là có căn cứ.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường xong thiệt hại, không yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

1/ Ba (03) nón bảo hiểm (gồm: 01 nón màu đen, 01 nón màu xám, 01 nón màu đen sọc trắng.

2/ Một (01) nón kết màu đỏ có chữ “EMPORIO ARMNI".

3/ Hai (02) cây đoản kim loại, màu trắng sáng hình chữ L dài 13,5cm.

4/ Một (01) nón lưỡi trai màu đen có chữ "adidas”.

5/ Một (01) đôi dép đế màu nâu, quai màu đen hình chữ “H”, trên dép có chữ "Hishoo - birken".

5/ Một (01) áo khoác dài tay màu xám, trên áo có chữ “FSHIONME".

6/ Một (01) áo khoác dài tay màu đen, tay trái áo có bốn sọc trắng, trên áo

có chữ “JULIDO", có mũ trùm đầu.

7/ Một (01) đoản kim loại màu trắng sáng dài 0,7cm.

8/ Một (01) chìa khóa 8-10 bằng kim loại bên trên có chữ VENUS dài 11,5cm.

Sung quỹ Nhà nước: Một (01) xe mô tô biển số 9431-029.38 màu xanh đen, không bửng, không đồng hồ xe, xe đã qua sử dụng, không có kiểm tra máy, có niêm phong chữ ký của Huỳnh Thị Yến N1 và Trương Văn T8.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Như đã phân tích trên nên đề nghị của Kiểm sát viên là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b, c, g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang Thanh T 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 27/11/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh V với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long – nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Vĩnh Long).

Tịch thu tiêu hủy:

1/ Ba (03) nón bảo hiểm (gồm: 01 nón màu đen, 01 nón màu xám, 01 nón màu đen sọc trắng.

2/ Một (01) nón kết màu đỏ có chữ “EMPORIO ARMNI".

3/ Hai (02) cây đoản kim loại, màu trắng sáng hình chữ L dài 13,5cm.

4/ Một (01) nón lưỡi trai màu đen có chữ "adidas”.

5/ Một (01) đôi dép đế màu nâu, quai màu đen hình chữ “H”, trên dép có chữ "Hishoo - birken".

5/ Một (01) áo khoác dài tay màu xám, trên áo có chữ “FSHIONME".

6/ Một (01) áo khoác dài tay màu đen, tay trái áo có bốn sọc trắng, trên áo

có chữ “JULIDO", có mũ trùm đầu.

7/ Một (01) đoản kim loại màu trắng sáng dài 0,7cm.

8/ Một (01) chìa khóa 8-10 bằng kim loại bên trên có chữ VENUS dài 11,5cm.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Một (01) xe mô tô biển số 9431-029.38 màu xanh đen, không bửng, không đồng hồ xe, xe đã qua sử dụng, không có kiểm tra máy, có niêm phong chữ ký của Huỳnh Thị Yến N1 và Trương Văn T8.

3. Án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Quang Thanh T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ