- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tấn T bị xét xử về tội ''Vận cuyển hàng cấm'' - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Dương Tấn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƢNG TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 23-4-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƢNG - TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Yến Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Huỳnh Hải.
Ông Nguyễn Văn Lạc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Anh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
Dƣơng Tấn T, sinh ngày 01/01/1995, tại V, Long An; Nơi cư trú: Ấp C, xã K, huyện V, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn Cà T1, sinh năm 1977 và bà Lê Thị Băng T2, sinh năm 1977; Vợ: Cao Thị Ngọc H, sinh năm 1995. Bị cáo có 02 người con sinh năm 2018 và 2023.
Tiền án: Không
Tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 15/12/2023, bị Trưởng Công an xã V xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo đã nộp phạt.
Về nhân thân: Ngày 22/01/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích" (Bản án số 18/2014/HSPT).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024 đến ngày 29/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Lưu L – Văn phòng L1, thuộc đoàn luật sư tỉnh T. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Hoàng A, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện V, tỉnh Long An. Có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Lâm Trung T3, sinh năm 1994. Địa chỉ: Ấp G, xã K, huyện V, tỉnh Long An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 20/10/2024, bị cáo Dương Tấn T đang ở nhà tại ấp C, xã K, huyện V thì nhận được điện thoại qua mạng xã hội Zalo của một người tên R ở xã H, huyện T, tỉnh Long An. Rúp thuê T vận chuyển 02 thùng pháo từ Campuchia về Việt Nam, địa điểm nhận pháo trên đường tuần tra biên giới gần nhà ông 8 P, thuộc ấp C, xã K, chở về giao tại cầu K thuộc ấp G, xã K với tiền công 500.000 đồng/thùng và được T đồng ý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Dream, biển số 62H2-0839 đến điểm nhận pháo. Khoảng 10 phút sau, có một người Campuchia mang 02 thùng pháo được bọc trong túi nylon màu đen đang ở phía bên kia kênh Cái Cỏ thuộc phần đất Campuchia, T lấy xuồng nhựa ở dưới kênh bơi qua nhận 02 thùng pháo. T vác 02 thùng pháo để lên xe mô tô chạy về, khi đi trên đường bờ Nam kênh 28 đoạn gần đến cầu K thuộc ấp C, xã K thì bị lực lượng Công an xã K phát hiện, bắt quả tang lúc 20 giờ 35 phút cùng ngày.
Cơ quan chức năng thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án bao gồm:
08 (tám) vật thể hình hộp vuông, có 04 cạnh được bo tròn kích thước 24cm x 24cm x 10cm, mặt trên và xung quanh hộp gián giấy màu xanh có in tiếng nước ngoài và ký hiệu KS4-10011, mặt dưới dán giấy màu xám, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Được niêm phong nguyên vẹn trong 02 (hai) thùng carton có ghi ký hiệu KS4-10011, gián giấy niêm phong có chữ ký của người niêm phong Đặng Văn B, người vi phạm Dương Tấn T và người chứng kiến Lâm Trung T3, cùng hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã K, huyện V, tỉnh Long An. Ký hiệu là M1, M2;
18 (mười tám) vật thể hình hộp vuông, có 04 cạnh được bo tròn kích thước 17,5cm x 17,5cm x 10cm, mặt trên và xung quanh hộp gián giấy màu xanh có in tiếng nước ngoài và ký hiệu T4049, không rõ nguồn gốc, xuất xứ. Được niêm phong nguyên vẹn trong 01 (một) thùng carton hiệu Cannon, gián giấy niêm phong có chữ ký của người niêm phong Đặng Văn B, người vi phạm Dương Tấn T và người chứng kiến Lâm Trung T3, cùng hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã K, huyện V, tỉnh Long An. Ký hiệu là M3.
01 (một) chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, trên lốc máy có ghi chữ H1 và P, loại xe Dream, màu sơn nâu, biển số 62H2-0839, số máy VTT19JL1P50FMG000060, số khung RRKDCG1TT6XC00060.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, gắn ốp lưng màu hồng, số sê-ri: F6AMNBIN8DDYYHCWW, đã qua sử dụng, gắn sim số 0343968996.
Tại Kết luận giám định số: 6476/KL-KTHS ngày 29/10/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
“ 08 (tám) khối hình chữ nhật có kích thước 24cm x 24cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 100 ống hình trụ tròn (ký hiệu M1, M) gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 23,5kg.
18 (mười tám) khối hình chữ nhật có kích thước 17,5cm x 17,5cm x10cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ tròn (ký hiệu M3) gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khối lượng 32kg."
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSVH ngày 26/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã quyết định truy tố bị cáo Dương Tấn T về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Tấn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”;
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Dương Tấn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
Đề nghị Hội hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo có hoàn cảnh khó khăn.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử lý vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô và 01 điện thoại của bị cáo đang bị tạm giữ do bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội. Đối với 55,5 kg pháo hoa nổ đã được Công an huyện V thành lập Hội đồng tiêu hủy vào ngày 14/01/2025 nên không xem xét.
Đối với người tên R thuê T vận chuyển pháo, Cơ quan điều tra xác minh tại khu vực kênh T thuộc xã H, huyện T, tỉnh Long An có một người tên Nguyễn Văn R, sinh ngày 01/01/1993 nhưng hiện tại R không có ở địa phương từ khoảng tháng 9/2024 đến nay, không thu thập được hình ảnh của R để nhận dạng nên Cơ quan điều tra ra quyết định tách hành vi số 41/QĐ-ĐTTH ngày 27/02/2025, tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý khi có căn cứ.
Đối với Võ Hoàng A (Bé), mặc dù Dương Tấn T khai A giới thiệu R thuê T vận chuyển hàng cấm. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định, A và T đều quen biết Rúp từ trước, việc T liên lạc và nhận vận chuyển pháo thuê cho R thì A không biết nên không có cơ sở kết luận A đồng phạm với T hoặc có hành vi không tố giác tội phạm.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Tấn T thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: Bị cáo phạm tội bị bắt quả tang nên Luật sư thống nhất tội danh của bị cáo theo Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ như: Nhận thức của bị cáo còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, phải nuôi 02 con còn nhỏ, bị cáo có ông nôi, bà nội là người có công với cách mạng nên đề nghị áp dụng hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Hoàng A trình bày: Bị cáo Dương Tấn T và anh Võ Hoàng A đều có quen biết với người đàn ông tên R ở xã H, huyện T. Trước đó R có đề nghị nhờ anh A vận chuyển pháo nhưng anh A đã từ chối. Anh A không giới thiệu bị cáo với người tên R mà hai người tự liên lạc với nhau.
Người chứng kiến, anh Lâm Trung T3 trình bày: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/10/2024 anh có chứng kiến sự việc lực lượng Công an xã K bắt quả tang một thanh niên tên T có hành vi vận chuyển 02 khối hình chữ nhật màu đen trên đường bờ nam kênh 28 thuộc ấp C, xã K, huyện V, T khai là pháo hoa và T chở thuê cho cho một người tên R, đang trên đường vận chuyển thì bị phát hiện và bị bắt quả tang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai trước Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, đúng với nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng đã truy tố bị cáo, đồng thời phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cũng như các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 20 giờ 35 phút ngày 20/10/2024, trên đường bờ Nam kênh 28 đoạn gần đến cầu K thuộc ấp C, xã K, huyện V, Dương Tấn T đang vận chuyển thuê hàng cấm là 55,5kg pháo hoa nổ cho một người chưa rõ lai lịch với tiền công 1.000.000 đồng thì bị Công an xã K phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Bị cáo Dương Tấn T là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ pháo nổ là mặt hàng bị Nhà nước cấm buôn bán, vận chuyển, lưu hành trên thị trường nhưng vì mục đích vụ lợi, bị cáo vẫn bất chấp và thực hiện hành vi vi phạm pháp luật với lỗi cố ý nên phải gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi vi phạm pháp luật bản thân đã gây ra.
Hành vi vận chuyển 55,5 kg pháo nổ của bị cáo Dương Tấn T đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các loại hàng hóa đặc biệt, làm ảnh hưởng đến trật tự xã hội và phạm tội với lỗi cố ý nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh nói trên là có căn cứ. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không oan khi bị khởi tố, truy tố và xét xử.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự xã hội và tiềm ẩn nhiều nguy cơ khác. Do vậy, cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc nhằm mục đích cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và cũng để răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nguyên nhân, động cơ dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ mục đích vụ lợi, vận chuyển pháo nổ để nhận được tiền công, vì số tiền thu lợi từ hành vi này sẽ nhiều hơn gấp nhiều lần so với tiền công của lao động chân chính khác nên bị cáo đã bất chấp hậu quả.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải và bị cáo có ông, bà nội là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Sau khi cân nhắc, xem xét toàn diện các chứng cứ, các tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy do bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và để phòng ngừa chung cho xã hội.
Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hai con của bị cáo còn nhỏ nên Hội hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:
01 (một) chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, trên lốc máy có ghi chữ H1 và P, loại xe Dream, màu sơn nâu, biển số 62H2-0839, số máy VTT19JL1P50FMG000060, số khung RRKDCG1TT6XC00060;
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, gắn ốp lưng màu hồng, số sê ri: F6AMNBIN8DDYYHCWW, đã qua sử dụng, gắn sim số 0343968996.
Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2025).
Đối với 55,5 kg pháo hoa nổ đã được Công an huyện V thành lập Hội đồng tiêu hủy vào ngày 14/01/2025 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với người tên R thuê bị cáo vận chuyển pháo, Cơ quan điều tra xác minh tại khu vực kênh T thuộc xã H, huyện T, tỉnh Long An có một người tên Nguyễn Văn R, sinh ngày 01/01/1993 nhưng hiện tại R không có ở địa phương từ khoảng tháng 9/2024 đến nay, không thu thập được hình ảnh của R để nhận dạng nên Cơ quan điều tra ra quyết định tách hành vi số 41/QĐ-ĐTTH ngày 27/02/2025, tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý khi có căn cứ. Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này, khi có kết quả điều tra sẽ được xem xét theo quy định của pháp luật.
Đối với Võ Hoàng A, quá trình điều tra xác định, A và T đều quen biết Rúp từ trước, việc T liên lạc và nhận vận chuyển pháo thuê cho R thì A không biết nên không có cơ sở kết luận A đồng phạm với T hoặc có hành vi không tố giác tội phạm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Quan điểm và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Dương Tấn T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Dương Tấn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 20/10/2024).
2. Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Tấn T 45 (bốn mươi lăm ngày), kể từ ngày tuyên án (23/4/2025) để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về vật chứng: Căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, trên lốc máy có ghi chữ H1 và P, loại xe Dream, màu sơn nâu, biển số 62H2-0839, số máy VTT19JL1P50FMG000060, số khung RRKDCG1TT6XC00060;
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15, màu trắng, gắn ốp lưng màu hồng, số sê ri: F6AMNBIN8DDYYHCWW, đã qua sử dụng, gắn sim số 0343968996.
Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng quản lý (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/4/2025).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Tấn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - Công an tỉnh Long An; - VKSND, CCTHADS huyện Vĩnh Hưng; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Yến Linh |