vanban.org

Bản án 11/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 20/01/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thạch S số tiền 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch S - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁO
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:11/2025/HS-ST
Ngày 20-01-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Niệm;

Bà Lê Thị Phương Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vương Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 130/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Thạch S, sinh năm 1997 tại Sóc Trăng; nơi đăng ký HKTT: Ấp VH, xã ATN, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở hiện tại: Ấp 4, xã TH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch D và bà Tăng Thị N; bị cáo có vợ là Dương Thị Duyên C, sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/8/2024 đến nay. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ nên khoảng đầu năm 2023 (không rõ thời gian cụ thể) bị cáo Thạch S đã cung cấp thông tin cá nhân của mình để thuê một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch làm giấy phép lái xe giả cho bị cáo S với số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Khoảng 10 ngày sau, bị cáo S nhận được một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 940239037846, hạng A1, họ tên “Thạch S”, sinh năm 1997, nơi cư trú: xã ATN, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, đề ngày 24/4/2023. Sau khi nhận được giấy phép lái xe, bị cáo S nhận thức được giấy phép lái xe trên là giả vì không đi học và đi thi sát hạch nhưng bị cáo S vẫn tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 01/8/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô biển số 83D1- 31281 lưu thông trên đoạn đường thuộc xã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương bị cáo S bị Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện Phú Giáo yêu cầu dừng xe kiểm tra với lỗi điều khiển phương tiện giao thông không đội mũ bảo hiểm, lúc này bị cáo S xuất trình giấy phép lái xe hạng A1 số 940239037846 mang tên Thạch S cho lực lượng chức năng. Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm đối với S và tạm giữ giấy phép lái xe trên để làm thủ tục xử phạt hành chính. Đội Cảnh sát giao thông phát hiện giấy phép lái xe của bị cáo S có dấu hiệu nghi ngờ giấy tờ giả nên chuyển vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo giải quyết theo thẩm quyền. Qua làm việc bị cáo S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Kết luận giám định số 2498/KL-KTHS (TL) ngày 25/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Một (01) “Giấy phép lái xe" (PET) số 940239037846, hạng A1, họ tên “Thạch S”, sinh năm 1997, nơi cư trú: xã ATN, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, đề ngày 24/4/2023 (ký hiệu A) là giả.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ:

Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 940239037846, hạng A1, họ tên “Thạch S”, sinh năm 1997, nơi cư trú: xã ATN, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, đề ngày 24/4/2023.

Bản Cáo trạng số 138/CT-VKSPG ngày 06/11/2024, Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương truy tố Thạch S về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thạch S về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, áp dụng khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Thạch S từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị lưu cùng hồ sơ vụ án một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 940239037846, hạng A1, họ tên “Thạch S”, sinh năm 1997, nơi cư trú: xã ATN, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, đề ngày 24/4/2023.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch S thừa nhận nội dung cáo trạng đã truy tố, thống nhất với tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo Thạch S: Bị cáo không nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Thạch S khai nhận: Để có giấy phép lái xe sử dụng đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông đường bộ, khoảng đầu năm 2023, bị cáo Thạch S cung cấp thông tin cá nhân của mình để thuê một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch làm giả cho bị cáo S một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 940239037846, hạng A1, họ tên “Thạch S”, sinh năm 1997, nơi cư trú: Xã ATN, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, đề ngày 24/4/2023. Khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 01/8/2023, bị cáo S điều khiển xe mô tô, biển số 83D1- 31281 lưu thông trên đoạn đường thuộc xã VH, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bị cáo S có hành vi sử dụng Giấy phép lái xe giả để xuất trình cho Đội Cảnh sát giao thông, Công an huyện Phú Giáo khi bị Đội Cảnh sát giao thông lập biên bản vi phạm hành chính với lỗi vi phạm điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với Kết luận giám định số 2498/KL-KTHS (TL) ngày 25/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương. Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Do đó, hành vi của bị cáo Thạch S đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Nên, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Thạch S về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét hành vi của bị cáo sử dụng giấy phép lái xe giả đặt mua từ một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức trong hoạt động quản lý hành chính. Vi phạm chủ trương, chính sách an toàn giao thông Nhà nước đề ra. Xét động cơ, mục đích phạm tội chỉ vì để có giấy phép lái xe đối phó với Cảnh sát giao thông khi tham gia giao thông mà không cần phải thi sát hạch mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Do đó, HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nh theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo.

Đối với đối tượng không rõ nhân thân lai lịch có hành vi làm giấy phép lái xe giả cho bị cáo S. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Về tài liệu vụ án: Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số 940239037846, hạng A1, họ tên “Thạch S”, sinh năm 1997, nơi cư trú: xã ATN, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng, đề ngày 24/4/2023. Xét, đây là tài liệu thể hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, HĐXX quyết định lưu cùng hồ sơ vụ án.

Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Thạch S phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Thạch S số tiền 32.000.000 đồng (ba mươi hai triệu đồng) nộp vào ngân sách nhà nước.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ