- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HS - ST Ngày: 24/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Doanh Thiêm Vân và bà Đồng Khánh Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thuỳ Chung, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Trinh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST - HS ngày 21/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST- HS ngày 11/4/2025 đối với bị cáo:
Nông Văn T; Ngày, tháng, năm sinh: 05/10/1975 tại Huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Tiểu khu T, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn L và con bà Nông Thị S (đều đã chết); vợ: Hà Thị Th; con: Có 02 con.
Tiền án: 01. Ngày 20/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (Bản án số 03/2022/HSST), chấp hành xong bản án ngày 08/4/2024, chưa được xóa án tích.
Tiền sự: 01. Ngày 21/11/2024 bị UBND xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.250.000,đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định số 02/QĐ-XPHC), tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 06/01/2025, Tịnh chưa nộp phạt.
Về nhân thân:
Ngày 26/11/2009, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 30 tháng tù và phạt tiền 5.000.000đồng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1, 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự (Bản án số 17/2009/HSST). Ngày 07/5/2014, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bản án số 13/2014/HSST). Ngày 22/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự (Bản án số 26/2016/HSST). Các bản án này, T đều đã chấp hành xong và được xóa án tích.
Ngày 03/01/2017, bị Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Quyết định số 58/QĐ-XPHC), nộp phạt ngày 11/01/2017. Ngày 02/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở bắt buộc trong thời gian 24 tháng (Quyết định số 09/2018/QĐ-TA), chấp hành xong ngày 10/9/2020.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 23/01/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Nông Văn T: Ông Sầm Đức T1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
- Bị hại:
+ Chị Vàng Thị C, sinh năm 2001; trú tại Tiểu khu T, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Vắng măt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
+ Anh Tô Văn V, sinh năm 2000; trú tại Tiểu khu T, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Người làm chứng: Chị Tô Thị D, sinh năm 2005; trú tại Tiểu khu T, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 06/01/2025, Nông Văn T, một mình từ nhà đi bộ sang khu vực làng cùng tiểu khu cách nhà T khoảng 01 km với mục đích tìm trộm cắp tài sản. Khi T đi đến khu vực dưới ruộng nhà chị Vàng Thị C, T quan sát thấy có 02 (hai) con gà đang được thả rông, T liền đi theo đường bờ ruộng để lên khu ruộng nhà chị C. Đến khu ruộng nhà chị C, T thấy có 02 (hai) con gà trống, loại gà Tam hoàng, màu lông vàng đang đi lại tự do ở ruộng, không bị quây nhốt, xung quanh không có người, T liền dùng tay bắt được 01 (một) con gà, sau đó ôm giữ gà và mang đi cất giấu, trên đường đi T nhặt được 01 (một) bao tải dứa ở bờ ruộng và cho con gà vào bao. Sau đó T đem bao tải đựng con gà vừa lấy trộm được cất giấu tại khu vực bìa rừng cách nơi lấy trộm gà khoảng 200 mét. Cất giấu xong gà, T đi lên khu ruộng cách đó khoảng 100 mét ngồi đợi trời tối để tiếp tục đi trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày 06/01/2025, T một mình đi bộ theo đường đằng sau nhà anh Tô Văn V, trú cùng tiểu khu với T đến khu vực chuồng gà nhà anh V, T nhìn thấy có 01 (một) con gà mái, loại gà ta, màu lông vàng trắng đen đang ấp trứng ở trong ổ kê ngay sát tường chuồng gà. Sau khi quan sát xung quang không có ai, T liền dùng hai tay ôm con gà ra khỏi ổ, khi T chuẩn bị tẩu thoát thì bị chị Tô Thị D, sinh năm 2005 (em gái của anh V) phát hiện và hô hoán. Thấy vậy, T cầm con gà bằng tay trái và chạy theo đường phía sau nhà anh V, chị D đuổi theo T, T chạy được khoảng 50 mét thì thả con gà ra để tránh sự truy đuổi của chị D, sau đó chạy tiếp vào rừng. Anh V sau khi đi lao động về nhà thì được nghe chị D kể lại việc phát hiện T có hành vi trộm cắp tài sản nên anh V đã đi tìm T. Về phía T, sau khi bỏ lại con gà vừa trộm được của gia đình anh V và chạy trốn, T đi đến vị trí cất giấu bao tải chứa con gà trộm được trước đó của gia đình chị Vàng Thị C với mục đích mang gà đi bán, khi T đi được một đoạn thì bị anh V tìm được tại khu vực thôn T, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, anh V giữ T cùng tài sản trộm cắp lại và báo cơ quan Công an đến làm việc.
Ngày 06/01/2025, Cơ quan Công an tiến hành cân xác định trọng lượng 02 (hai) con gà Nông Văn T trộm cắp của gia đình chị Vàng Thị C và gia đình anh Tô Văn V, khối lượng gà cân được lần lượt là: 1,6 kg và 1,3 kg.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HDĐGTSTTTHS ngày 20/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ngân S kết luận:
- 01 (một) con gà trống có trọng lượng 1,6 kg, loại gà tam hoàng có lông màu vàng có giá trị là 208.000đ (hai trăm linh tám nghìn đồng).
- 01 (một) con gà mái có trọng lượng 1,3 kg, loại gà ta đang ấp trứng có lông màu vàng trắng đen có giá trị là 221.000đ (hai trăm hai mươi mốt nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản Tịnh trộm cắp là 429.000đ (bốn trăm hai mươi chín nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 10/CT - VKSNS ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Nông Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngân S, tỉnh Bắc Kạn giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử trình bày lời luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam. Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về bồi thường nên không đề nghị xem xét
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 (một) bao tải dứa có nhiều màu, đã qua sử dụng không có giá trị đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu lời bào chữa và đề nghị: Nhất trí về tội danh cáo trạng truy tố và điều luật áp dụng đề nghị tại phiên tòa của Viện kiểm sát. Xét hoàn cảnh bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu vùng xa nhận thức về pháp luật còn hạn chế, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, giá trị tài sản do bị cáo chiếm đoạt không lớn, đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức án từ 15 đến 21 tháng tù là phù hợp. Về án phí, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ và có đơn xin miễn án phí, đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình tranh tụng tại phiên toà xác định được như sau:
Trong chiều ngày 06/01/2025 tại Tiểu khu T, thị trấn V, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, Nông Văn T đã một mình 02 (hai) lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Trộm cắp 01 (một) con gà trống, loại gà tam hoàng, trọng lượng 1,6 kg trị giá 208.000đồng của chị Vàng Thị C.
- Lần thứ nhất: Trộm cắp 01 (một) con gà mái, loại gà ta, trọng lượng 1,3 kg trị giá 221.000đồng của anh Tô Văn V.
Tổng giá trị tài sản do T trộm cắp là 429.000đồng, nhưng do trước đó ngày 21/11/2024, T bị UBND xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.250.000 (hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02/QĐ-XPHC), tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 06/01/2025, T chưa thi hành việc nộp phạt và chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên lần phạm tội này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Cáo trạng số: 10/CT - VKSNS ngày 20/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn; có bố đẻ là ông Nông Văn L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo thực hiện hai lần phạm tội khi đang có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố; căn cứ tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, tình hình an ninh trật tự tại địa phương, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nằm trong khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố nên được chấp nhận. Do bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc mới đảm bảo giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm. Mức hình phạt tù của người bào chữa cho bị cáo đề nghị tại phiên tòa chưa bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa tội phạm nên không được chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Qua các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thể hiện, bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, không có thu nhập, do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại được tài sản bị mất và không có yêu cầu, đề nghị bồi thường gì khác.
Về vật chứng:
Đối với 02 (hai) con gà là tài sản do T trộm cắp: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tạm giữ để xác minh làm rõ, sau đó, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình điều tra nên đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng pháp luật.
Đối với 01 (một) bao tải có nhiều màu, đã qua sử dụng không có giá trị cần tịch thu để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nông Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/01/2025.
Phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao tải dứa có nhiều màu (xanh, trắng, đỏ, vàng) trên bề mặt bao tải có ghi (PHÂN BÓN NPK SINH MIX 6-9-3-3S), có kích thước chiều rộng 45 cm, chiều dài 73 cm (loại bao đã qua sử dụng).
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND huyện N; - CA tỉnh Bắc Kạn (PC10); - Chi cục THADS huyện N; - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Kạn; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Hiến Công Hanh |