vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tiến đối với bị đơn ông Huỳnh Đức Duy.

Về quan hệ hôn nhân: Bà LTT được ly hôn với ông HĐ. Về con chung: Giao con chung HLTV, sinh ngày 26/9/2007 và HLTN, sinh ngày 17/8/2015 cho ông HĐD trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục, ông D không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên bà T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T-D ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tiến đối với bị đơn ông Huỳnh Đức Duy.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 01 - 2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Công

2. Bà Trần Ngọc Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Uyên- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 816/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà LTT, sinh năm 1984; thường trú: 161/22 ấp LH, xã LT, huyện CL, tỉnh BT; tạm trú: Ô 24 DC 10, đường D16, KP4, phường AP, thành phố TA, tỉnh B, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông HĐD, sinh năm 1981; thường trú: 161/22 ấp LH, xã LT, huyện CL, tỉnh BT; tạm trú: B14/15 khu phố KP2, phường TG, thành phố TA, tỉnh B, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/7/2024, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị Tiến trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà LTT và ông HĐD tự nguyện tìm hiểu nhau, tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận kết hôn số 125 ngày 29/7/2009. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau khiến cho cuộc sống chung không hạnh phúc. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông HĐD.

+ Về con chung: Có 02 con chung tên HLTV, sinh ngày 26/9/2007 và HLTN sinh ngày 17/8/2015. Theo đơn khởi kiện bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên HLTN, sinh ngày 17/8/2015, đồng ý giao con chung HNTV, sinh ngày 26/9/2007 cho ông D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tuy nhiên theo văn bản trình bày ý kiến ngày 24/12/2024 bà T đồng ý để ông D được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, bà T không cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

đồng thời bà T có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn ông HĐD thống nhất lời trình bày của bà T về thời gian kết hôn và quá trình chung sống. Theo ông D vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn, chỉ là những vụn vặt trong cuộc sống gia đình. Ông và bà T sống ly thân từ năm 2021 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông cũng đồng ý ly hôn.

+ Về con chung: Có 02 con chung tên HLTV sinh ngày 26/9/2007 HLTN, sinh ngày 17/8/2015. Ông D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên HLTN, sinh ngày 17/8/2015 và HLTV, sinh ngày 26/9/2007, không yêu cầu bà Tiến cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

đồng thời ông D có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông HĐD có đăng ký tạm trú và sinh sống tại địa chỉ B14/15 khu phố Bình Thuận 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Thuận An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, yêu cầu giải quyết con chung, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung; nợ chung. Như vậy quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Quá trình tố tụng nguyên đơn và bị đơn đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên căn cứ Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông D tự nguyện tìm hiểu chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận kết hôn số 125 ngày 29/7/2009, do đó hôn nhân của bà T và ông D là hợp pháp.

Nguyên đơn và bị đơn đều thống nhất ly hôn, tuy nhiên cả bà T và ông D đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đóm Hội đồng xét xử không thể công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Tiến và ông Duy được.

Về con chung: Có 02 con chung tên HLTV, sinh ngày 26/9/2007 và HLTN, sinh ngày 17/8/2015. Bà T và ông D thống nhất ông D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 con chung, các con chung cũng có nguyện vọng sống với ông D và ông, bà nội. Ông D không yêu cầu bà Tiến cấp dưỡng nuôi con nên bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56; 57 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Tiến đối với bị đơn ông Huỳnh Đức Duy.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà LTT được ly hôn với ông HĐ.

- Về con chung: Giao con chung HLTV, sinh ngày 26/9/2007 và HLTN, sinh ngày 17/8/2015 cho ông HĐD trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục, ông D không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên bà T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà LTT phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009614 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ