vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 11/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hải L được ly hôn anh Nguyễn Văn Ng. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hải L - Nguyễn Văn Ng"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/4/2025
V/v:Tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Túc

Các Hội thẩm nhân dân

Bà Phan Thị Bích

Bà Nguyễn Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 14/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ L số: 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2025 giữa các đương sự:

Ng đơn: Chị Nguyễn Hải L, sinh năm 1990. Địa chỉ: Xóm Dụ Phượng, xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1989. HKTT: Xóm Đồng Giang, xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. (Hiện nay anh Ng đang ở CANADA), vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong quá trình giải quyết vụ án, các bản tự khai Ng đơn chị Nguyễn Hải L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hải L và anh Nguyễn Văn Ng kết hôn tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình ngày 28/02/2024. Trước đó vợ chồng đã có quá trình tìm hiểu. Khoảng tháng 3 năm 2024, anh Ng sang Canada làm việc. Đến tháng 9 năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không ở cạnh nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ đó đến nay, mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp tục, anh Ng đi làm xa nên mâu thuẫn vợ chồng không hòa giải được. Chị L thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị L khai rằng vợ chồng chưa có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Ng vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản nêu ý kiến tới Tòa án

Ngày 16/01/2025, Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã có công văn số 28/CV-TA tới phòng PA08 – Công an tỉnh Hòa Bình về việc xác minh thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Văn Ng.

Ngày 24/01/2025, phòng PA08 có công văn số 65/PA08 xác định thông tin anh Nguyễn Văn Ng xuất cảnh ra nước ngoài ngày 05/3/2024 và chưa có thông tin nhập cảnh lại.

Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình đã tiến hành xác minh với ông Nguyễn Ngọc Tuấn – trưởng xóm Đồng Giang, ông Tuấn cung cấp: Anh Nguyễn Văn Ng có đăng ký cư trú tại xóm Đồng Giang, xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình. Về mâu thuẫn vợ chồng của anh Ng, chị L thì ông Tuấn không nắm được. Hiện nay anh Ng không có mặt ở xóm Đồng Giang, anh Ng đi đâu, làm gì thì ông Tuấn không biết. Xác minh với ông Đinh Văn Tuấn – Cán bộ Tư pháp xã Mông Hóa, ông Tuấn cung cấp: “Anh Nguyễn Văn Ng có đăng ký cư trú tại xóm Đồng Giang, xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình. Ngày 28/02/2024, anh Ng và chị L đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Mông Hóa. Anh Ng có đăng ký cơ sở kinh doanh tại xóm Nước Hang, xã Mông Hóa nhưng hiện nay không còn kinh doanh nữa. Anh Ng đi đâu, làm gì thì ông Tuấn không nắm được. Uỷ ban nhân dân xã đã nhận được các giấy triệu tập anh Ng, các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng do anh Ng không có mặt tại địa phương nên Uỷ ban đã thực hiện niêm yết theo quy định.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 17/01/2025, bà Công Thị Vân – là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn Ng, bà Vân xác nhận: Anh Ng và chị L đã tìm hiểu nhau từ trước và đã đăng ký kết hôn ngày 28/02/2024 tại Uỷ ban nhân dân xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Hiện nay, anh Ng đang sinh sống và làm việc tại Canada, anh Ng đi từ tháng 3 năm 2024 đến nay chưa về Việt Nam. Anh Ng thường xuyên liên lạc về nhà, nhưng gia đình không biết hiện tại làm công việc gì, sinh sống ở đâu. Nay chị L làm đơn xin hôn, anh Ng có biết và đồng ý ly hôn, nhưng vị bận công việc nên anh Ng không về Việt Nam làm thủ tục ly hôn với chị L được.

Về mâu thuẫn vợ chồng, do bà Vân không ở cùng nên bà không nắm được, khi các con muốn ly hôn, bà có khuyên can, hòa giải nhưng không được.Vợ chồng mới cưới từ tháng 02/2024 nên chưa có con cái, tài sản chung. Về nợ chung thì anh Ng không nợ ai. Việc chị L anh Ng yêu cầu ly hôn bà không có ý kiến gì; bà nhất trí là người thay mặt anh Ng tiếp nhận các văn bản tố tụng mà Tòa án giao và hứa có trách nhiệm thông báo và chuyển đến tay anh Ng theo đúng quy định.

Qúa trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, chị L vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Ng vắng mặt không có L do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ L, giải quyết, xét xử vụ án; Ng đơn chị Nguyễn Hải L vắng mặt và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn Ng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có L do. Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt Ng đơn và bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Khoản 1 Điều 56; Khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35, điểm e Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội; Đề nghị:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Hải L ly hôn anh Nguyễn Văn Ng

Về con chung, tài sản chung, vay nợ chung, án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Hải L xin ly hôn anh Nguyễn Văn Ng, đây là tranh chấp về “Ly hôn”. Chị L và anh Ng đều đăng ký thường trú ở xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Anh Ng hiện đang cư trú ở nước ngoài. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về sự vắng mặt của các đương sự: Chị Nguyễn Hải L đã cung cấp đầy đủ tài liệu có liên quan đến yêu cầu xin ly hôn và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L. Anh Nguyễn Văn Ng vắng mặt, không cung cấp văn bản nêu ý kiến tới Tòa án. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ anh Ng tới phiên tòa lần thứ hai nhưng anh Ng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Ng là đúng quy định.

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hải L và anh Nguyễn Văn Ng kết hôn tự nguyện, có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Mông Hóa, thành phố Hòa Bình ngày 28/02/2024.. Khoảng tháng 3 năm 2024, anh Ng sang Canada làm việc.

Đến tháng 9 năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng không ở cạnh nhau, bất đồng quan điểm sống. Từ đó đến nay, mâu thuẫn vợ chồng vẫn tiếp tục, anh Ng đi làm xa nên mâu thuẫn vợ chồng không hòa giải được. Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát, đánh giá của Hội đồng xét xử tại phiên tòa; Thấy cần căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Hải Lt

. Về con chung, tài sản chung, công nợ chung: Không có, nên không đề cập giải quyết.

. Về án phí: Chị Nguyễn Hải L tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

.Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; Khoản 1 Điều 56; Khoản 2 Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình;

Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35; điểm e Khoản 1 Điều 37; Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; 238; 271; 273; Khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hải L được ly hôn anh Nguyễn Văn Ng.

2.Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

3.Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4.Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5.Về án phí: Chị Nguyễn Hải L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được đối trừ với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) chị L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004305 ngày 07/01/2025 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hòa Bình.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Hải L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật

Anh Nguyễn Văn Ng có quyền kháng cáo trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ