vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật

tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án n n n ia n t ụ số: 96/2025/TLST – HNGĐ n 09 t án 5 n 2025 về việ tran ấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”"
  • Tòa quyết gì? Gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – KHÁNH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 11/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 08 – 9 – 2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – KHÁNH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Thanh Long; Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đăng An và bà Huỳnh Thị Sâm; - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Trí – Cán bộ Tòa án. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh – Kiểm sát viên. Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Khánh Hòa, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 96/2025/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2025 về việc tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/QĐST – HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích T – sinh năm: 1990 (vắng mặt, có yêu cầu vắng mặt). - Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc C – sinh năm: 1988 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: thôn T, xã X, tỉnh Khánh Hòa (trước đây là thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khai nguyên đơn bà Trần Thị Bích T trình bày: Bà và ông Nguyễn Quốc C tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 27/4/2009. Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Nhã Kiều T1 – sinh ngày 09/7/2010 và Nguyễn Quốc H – sinh ngày 26/12/2012. Trong cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không hạnh phúc, ông C chơi cờ bạc, đánh đập bà, bà đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông C vẫn không thay đổi, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Vì tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà đồng ý giao 02 con chung cho ông C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là Nguyễn Nhã Kiều T1 – sinh ngày 09/7/2010 và Nguyễn Quốc H – sinh ngày 26/12/2012. Bà không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn ông Nguyễn Quốc C vắng mặt. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ, riêng bị đơn vắng mặt dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, bà T được ly hôn với ông C; giao 02 con chung là Nguyễn Nhã Kiều T1 và Nguyễn Quốc H cho ông C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông C không yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thủ tục tố tụng: [1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Khánh Hòa theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. [1.2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Bích T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án. [2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bích T và ông Nguyễn Quốc C kết hôn là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 27/4/2009, theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn bà Trần Thị Bích T cho rằng vợ chồng bà thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung không hạnh phúc, bài bạc, đánh đập bà ... không còn quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống. Xét thấy: Lời trình bày của bà T phù hợp với biên bản xác minh ngày 18/7/2025 tại địa phương (BL 33). Hơn nữa dù đã được tống đạt hợp lệ nhưng ông C không đến Tòa làm việc, chứng tỏ ông C có thái độ bỏ mặc, muốn ra sao thì ra. Hội đồng xét xử

thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T. [2.2] Về con chung: Bà Trần Thị Bích T đồng ý giao 02 con chung cho ông C được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Xét thấy: Đối với con chung Nguyễn Nhã Kiều T1 và Nguyễn Quốc H tính đến ngày mở phiên tòa cháu T1, cháu H trên 7 tuổi và tại đơn trình bày ý kiến cháu T1, cháu H trình bày "Trường hợp cha mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với ba". Đây là nguyện vọng chính đáng của trẻ được pháp luật bảo vệ. Hơn nữa cháu còn quá nhỏ cần sự chăm sóc của ba. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho con chung, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu T1, cháu H cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ghi nhận được ý kiến của ông C. [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. [3] Về án phí: Bà Trần Thị Bích T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật. [4] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn luật định các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. [5] Từ những phân tích, đánh giá chứng cứ như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Chấp nhận toàn bộ ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bích T. 1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bích T được ly hôn với ông Nguyễn Quốc C. 2. Về con chung: Ông Nguyễn Quốc C có quyền và nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Nhã Kiều T1 – sinh ngày 09/7/2010 và Nguyễn Quốc H – sinh ngày 26/12/2012. Bà Trần Thị Bích T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ghi nhận được ý kiến của ông C. Hiện nay con chung đang ở với ông bà. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. 3. Về án phí: Bà Trần Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Trần Thị Bích T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 34 ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Án xử công khai, sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ