- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án HNGĐ Loan - Vân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 04/8/2025 " “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thương và Bà Vũ Thị Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Huyền – Kiểm sát viên
Ngày 04/8/2025, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 75/2025/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 09/7/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/7/2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Vũ Thị L; sinh năm: 1976; Địa chỉ: tổ 5, khu Thanh S 6, phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng V; sinh năm:1975; Địa chỉ: tổ 5, khu Thanh S 6, phường Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 26/4/2025, lời khai tại các buổi làm việc tại Tòa án, chị Vũ Thị L trình bày: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Hoàng V kết hôn năm 1999, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường Đại Yên, thành phố Hạ Long (nay là phường Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh). Sau khi kết hôn giữa hai vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân là do quan điểm sống giữa chị L và anh V không hợp nhau nên có ở gần cũng thường xuyên bất đồng, cãi cọ. Dù hai bên gia đình đã nói chuyện, khuyên giải nhiều lần nhưng anh V không chịu thay đổi bản thân, hai vợ chồng vẫn không thể tìm được tiếng nói chung. Càng ngày cuộc sống chung càng căng thẳng, tình cảm vợ chồng phai nhạt dần. Chị L và anh V hiện nay đã sống ly thân từ cuối năm 2024. Chị L nhận thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn nên chị L đề nghị Toà án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh V .
-Về con chung: Chị L và anh V có hai con chung là Nguyễn Thu Trang, sinh ngày 12/02/2000 (đã trưởng thành) và cháu Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên, sinh ngày 07/7/2012. Hiện nay cháu Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên đang ở cùng với mẹ. Quan điểm của chị L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyên. Chị L không yêu cầu anh V phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị L không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết về tài sản.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng V: Toà án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh đã triệu tập hợp lệ anh V nhiều lần nhưng anh V không đến Toà án để giải quyết vụ án, nên không biết rõ được quan điểm của anh V về việc giải quyết vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai của hai cháu Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên, sinh ngày 07/7/2012, cháu Nguyên có nguyện vọng muốn được ở với mẹ nếu bố mẹ các cháu ly hôn.
Tại biên bản xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và nguyện vọng của các con chung: Ông Đặng Minh Nhật, khu trưởng khu Thanh S 6, phường Uông Bí cũng xác nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa chị L và anh V đúng như chị L đã trình bày. Nếu chị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh V, đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật. Ông Đặng Minh Nhật cũng cho biết chị L và anh V có hai con chung là Nguyễn Thu Trang, đã trưởng thành và Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên, sinh ngày 07/7/2012. Hiện nay cháu Nguyên đang ở cùng với mẹ và được mẹ chăm sóc tốt. Đề nghị Tòa án xem xét để đảm bảo cho cuộc sống ổn định của các cháu sau này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng việc thụ lý vụ án về trình tự, thủ tục, thẩm quyền. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Bị đơn vắng mặt hai lần tại phiên tòa không có lý do chính đáng là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị L.
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị chấp nhận cho chị L được ly hôn anh V;
+ Về con chung: Đề nghị giao cháu Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên, sinh ngày 07/7/2012 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh V không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa các đương sự có địa chỉ tại khu Thanh S 6, phường Uông Bí, Quảng Ninh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Quảng Ninh, tỉnh Quảng Ninh theo qui định tại khoản 1 điều 28, Điểm a khoản 1 điều 35, Điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Hoàng V đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, nguyên đơn chị Vũ Thị L có đơn xin xử án vắng mặt. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
.Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp và các chứng cứ do Tòa án thu thập có trong hồ sơ vụ án đã xác định chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Hoàng V đủ điều kiện kết hôn và tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh năm 1999 (nay là phường Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh). Chị L có yêu cầu xin ly hôn với anh V bởi chị L xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng ly thân đã lâu. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống. Dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng vẫn không giải quyết được mâu thuẫn. Hai vợ chồng không còn quan tâm,chăm sóc và trách nhiệm với nhau. Xét thấy cuộc sống vợ chồng của chị L và anh V không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L là có cơ sở phù hợp với qui định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.
.Về con chung: Chị Vũ Thị L và anh Nguyễn Hoàng V có có hai con chung là Nguyễn Thu Trang, sinh ngày 12/02/2000 (đã trưởng thành) và cháu Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên, sinh ngày 07/7/2012. Chị L có quan điểm hiện nay cháu Nguyên còn nhỏ, đang ở cùng với mẹ từ khi chị L và anh V sống ly thân. Tại biên bản lấy lời khai ngày 13/6/2025, cháu Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên thể hiện quan điểm nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với mẹ. Tại biên bản xác minh ngày 11/6/2025, ông Đặng Minh Nhật, khu trưởng khu Thanh S 6, phường Uông Bí cũng xác nhận chị L và anh V có hai con chung, một cháu đã trưởng thành. Hiện nay còn cháu Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên ở cùng với mẹ và được mẹ chăm sóc tốt. Đề nghị Tòa án xem xét để đảm bảo cho cuộc sống ổn định cho tâm lý của cháu sau này. Để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về mọi mặt của con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện tại các con chung đang ở cùng với chị Vũ Thị L, được chị L chăm sóc tốt, có cuộc sống ổn định và các cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ cháu ly hôn. Chị Vũ Thị L có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh V đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh V vắng mặt tại các phiên hòa giải và xét xử nên không có quan điểm về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Do vậy cần giao các con chung cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Đây là nguyện vọng của đương sự, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản, anh Nguyễn Hoàng V vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về vấn đề tài sản.
Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải, đối thoại tại Toà án.
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị L.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng V.
2.Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Thảo Nguyên, sinh ngày 07/7/2012 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Nguyễn Hoàng V không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Đồng thời anh V còn có quyền yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu một trong các bên không nuôi dưỡng được con chung.
3.Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0002947 ngày 27/5/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 - Quảng Ninh).
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5.Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Xuyến
Nguyễn Thị Thương
Trần Anh Đức
QUYẾT ĐỊNH:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 266, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1,3 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;
- Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị L.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng V.
2.Về con chung: Giao các con chung Phạm Hồng Thắm, sinh ngày 22/6/2008 và Phạm Ngọc Mai, sinh ngày 21/10/2014 cho chị Vũ Thị L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Nguyễn Hoàng V không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Anh V có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Đồng thời anh V còn có quyền yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu một trong các bên không nuôi dưỡng được con chung.
3.Về án phí: Chị Vũ Thị L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai số 0002817 ngày 20/12/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự Khu vực 2 - Quảng Ninh.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5.Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Xuyến
Nguyễn Thị Thương
Trần Anh Đức
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Dung – Nguyễn Thị Xuân
Vũ Huy Hùng
| Nơi nhận - Các đương sự; - VKSND TP Uông Bí; - TAND tỉnh Q. Ninh; - THADS TP Uông Bí; - UBND p. Vàng Danh, TP Uông Bí; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Huy Hùng |