vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Ng.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ng được ly hôn anh Bùi Văn H. Về con chung: Xác nhận có 02 con chung. Giao con Bùi Tiến H, sinh ngày 25/4/2013 cho chị Bùi Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác; Giao con Bùi An Kh, sinh ngày 25/11/2017 cho anh Bùi Vă… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Bùi Thị Ng; bị đơn anh: Bùi Văn H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Ng.
  • Căn cứ chính? Luật Hôn và nhân gia đình; luật Tố tụng; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ - ST
Ngày 29 tháng 7 năm 2025
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Kiều Quang Dự

Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Trung Tính và Ông: Quách Ngọc Ánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Lương - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 47/2025/TLST - HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025, về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 07/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 15/7/2025; giữa:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ng, sinh ngày 20/12/1990; Có mặt

Nơi cư trú: Xóm L, xã Dũng T, tỉnh Phú Thọ

- Bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh ngày 17/9/1987; Có mặt

Nơi cư trú: Xóm L, xã Dũng T, tỉnh Phú Thọ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/4/2025 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Bùi Thị Ng trình bày và yêu cầu như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Bùi Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 07/8/2012 tại UBND xã Cuối Hạ, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (cũ), sau kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sống, anh H chơi bời tính cách độc đoán gia trưởng, có thời điểm vợ chồng ăn ở riêng do mâu thuẫn trầm trọng, tôi bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, chúng tôi sống ly thân từ năm 2022. Nay tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được, hôn nhân không có hạnh phúc. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Bùi Văn H.

- Về con chung: Có 02 con chung Bùi Tiến H, sinh ngày 25/4/2013; Bùi An Kh, sinh ngày 25/11/2017, sau khi ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

- Tài sản chung, công nợ chung: Không có.

* Anh Bùi Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Xác nhận vợ chồng có đăng ký kết hôn hai bên tự nguyện, có giấy chứng nhận kết hôn. Trong quá trình chung sống với nhau, có những lúc vợ chồng không hiểu nhau nên sảy ra cãi vã, chị Bùi Thị Ng bỏ đi làm và xuống nhà mẹ đẻ sinh sống hơn 03 năm nay không về nhà, tôi có xuống nói chuyện với chị Ng và gia đình nhà vợ để chị Ng quay về vợ chồng chung sống, nhưng vợ tôi không về chị Bùi Thị Ng xin ly hôn tôi không đồng ý, vì tôi vẫn còn tình cảm với chị Ng và ly hôn tôi thương con, mong vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái.

- Về con chung: Có 02 con chung Bùi Tiến H, sinh ngày 25/4/2013; Bùi An Kh, sinh ngày 25/11/2017, nếu phải ly hôn tôi yêu cầu được trực tiếp 02 nuôi con, chưa yêu cầu chị Bùi Thị Ng cấp dưỡng nuôi.

- Tài sản, công nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa chị Bùi Thị Ng có thay đổi về yêu cầu nuôi con, sau khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con Bùi Tiến H, anh H nuôi con Bùi An Kh các yêu cầu khác chị giữ nguyên, không yêu cầu Tòa án giải quyết thêm vấn đề nào khác.

Anh Bùi Văn H giữ nguyên các ý kiến yêu cầu của mình, anh không có ý kiến yêu cầu gì thêm khác.

* Đại diện Viện kiểm phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục Tố tụng: Việc tuân theo pháp luật Tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã đảm bảo được thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

+ Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

+ Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị Ng. Xử cho chị Bùi Thị Ng được ly hôn anh Bùi Văn H; Về con chung: Có 02 con chung Bùi Tiến H, sinh ngày 25/4/2013; Bùi An Kh, sinh ngày 25/11/2017, chị Ng yêu cầu được trực tiếp nuôi con Bùi Tiến H, anh H yêu cầu được nuôi cả hai con, ý kiến của cháu Bùi Tiến H nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sinh sống cùng chị Ng, ý kiến cháu Kh bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sinh sống cùng anh H. Đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu của anh H, giao con cho chị Ng và anh H mỗi người nuôi một con theo nguyện vọng của các cháu, đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác; Về tài sản, công nợ chung: Không có nên không đề cập; Về án phí chị Bùi Thị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật; Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Căn cứ áp dụng luật Tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, nuôi con bị đơn là anh Bùi Văn H hiện đang cư trú tại xã Dũng T, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ áp dụng luật nội dung: Quan hệ hôn nhân có đăng ký kết hôn hợp pháp, nên áp dụng Luật Hôn và nhân gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.

Nội dung vụ án:

- Về quan hệ hôn nhân:

+ Đối với yêu cầu được ly hôn của chị Bùi Thị Ng: Sau kết hôn năm 2012 vợ chồng chị chung sống đến năm 2017 anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, do anh H chơi bời tính cách độc đoán gia trưởng, có thời điểm vợ chồng ăn ở riêng do mâu thuẫn trầm trọng, chị bỏ về nhà bố mẹ để sinh sống, anh chị không còn chung sống từ năm 2022. Chị Ng thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trong không khắc phục được, hôn nhân không có hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Bùi Văn H.

+ Đối với ý kiến anh Bùi Văn H: Sau khi kết hôn trong quá trình chung sống với nhau, có những lúc anh chị không hiểu nhau nên vợ chồng xảy ra cãi vã, chị Bùi Thị Ng bỏ đi làm và xuống nhà mẹ đẻ sinh sống hơn 03 năm không về nhà, anh có đến gọi chị về để vợ chồng chung sống nhưng chị không về, nay chị Bùi Thị Ng xin ly hôn anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với chị Ng và ly hôn anh thương con cái, anh mong vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành Hòa giải lần 01 để vợ chồng đoàn tụ, sau đó chị Bùi Thị Ng có đơn đề nghị Tòa không tiến hành hòa giải. Tại phiên tòa chị không đồng ý đoàn tụ với anh H, lý do chị đã tha thứ cho anh H nhiều lần nhưng anh H vẫn không thay đổi tính cách, lối sống chị vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn anh Bùi Văn H, trong thời gian giải quyết vụ án anh H mặc dù mong muốn chị Ng về đoàn tụ, để cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng anh không có giải pháp nào để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, để vợ chồng cùng nhau chung sống nuôi dạy các con, xây dựng hạnh phúc gia đình, vợ chồng anh chị vẫn mỗi người sống một nơi. Kết quả xác minh tại nơi cư trú, vợ chồng anh, chị mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì đoàn thể nơi cư trú không biết, do anh chị không đề nghị đoàn thể hòa giải, xác minh người thân của chị Ng nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Ng và anh H như ý kiến trình bày của chị Ng, anh chị không còn chung sống với nhau từ năm 2022.

Như vậy ý kiến của anh H không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị Ng, anh mong chị Ng đoàn tụ để nuôi dạy con là không có căn cứ. HĐXX không chấp nhận ý kiến của anh, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Ng và anh H là trầm trọng không thể khắc phục, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân giữa anh chị không đạt được. HĐXX xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Ng là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của chị Ng, xử cho chị Bùi Thị Ng được ly hôn anh Bùi Văn H, theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Xác nhận anh chị có 02 con chung Bùi Tiến H, sinh ngày 25/4/2013 và Bùi An Kh, sinh ngày 25/11/2017, chị Ng yêu cầu sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi con Bùi Tiến H chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, anh H yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con, chưa yêu cầu chị Ng cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy anh chị có 02 con chung, anh chị mỗi người sống một nơi, cháu Bùi Tiến H đang sinh sống cùng chị Ng, cháu Bùi An Kh đang sinh sống cùng anh H, ý kiến của cháu H nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sinh sống cùng chị Ng, ý kiến cháu Kh bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sinh sống cùng anh H. Do vậy HĐXX không chấp nhận ý kiến của anh Bùi Văn H đối với yêu cầu được trực tiếp nuôi cả hai con sau khi ly hôn. Xét nguyện vọng của các cháu H và Kh, ý kiến của chị Ng nên giao cháu Bùi Tiến H cho chị Bùi Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Bùi An Kh cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác, theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Về tài sản, công nợ chung: Không có nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Bùi Thị Ng phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm, theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/216 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị Ng.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Ng được ly hôn anh Bùi Văn H.

2. Về con chung: Xác nhận có 02 con chung. Giao con Bùi Tiến H, sinh ngày 25/4/2013 cho chị Bùi Thị Ng trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác; Giao con Bùi An Kh, sinh ngày 25/11/2017 cho anh Bùi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu khác, chị Ng và anh H chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con; chị Ng và anh H có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở.

3. Tài sản, công nợ chung: Không có.

4. Án phí: Chị Bùi Thị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0003406 ngày 16/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 - Phú Thọ).

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ