vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Thạch Thị Ngọc T.

Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Ngọc T được ly hôn ông Nguyễn Thanh L. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thạch Thị Ngọc T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Thạch Thị Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 29 - 8 - 2025
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Nhàn

Ông Phạm Văn Ngài

- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thúy Lam - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Huấn - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2025/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Thạch Thị Ngọc T, sinh năm 1993 - Có mặt

Địa chỉ: ấp L, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Địa chỉ sau sáp nhập: ấp L, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1994 -Vắng mặt

Địa chỉ: ấp D, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Địa chỉ sau sáp nhập: ấp D, xã C, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Thạch Thị Ngọc T trình bày: Bà và ông Nguyễn Thanh L do quen biết nhau tự nguyện tiến đến hôn nhân và được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán vào tháng 3 năm 2024, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là UBND xã N, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 11/4/2024. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tài chính kinh tế trong gia đình, vợ chồng sống chung nhà nhưng không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cải nên bà và ông L đã sống ly thân từ cuối tháng 7 năm 2024 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau. Nay, bà xét thấy tình cảm vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

Về con: Bà và ông L không có con chung.

Về tài sản: Bà không tranh chấp nên không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ phải thu, phải trả: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác cho ông Nguyễn Thanh L biết nhưng ông L vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải và cũng không có mặt tại phiên toà để trình bày ý kiến của ông đối với yêu cầu khởi kiện của bà T.

Ý kiến của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Thẩm phán tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng đầy đủ theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ của mình, không có mặt tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng không có măt tại Toà mặc dù Tòa án thông báo hợp lệ.

Về nội dung: Vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 54, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Ngọc T.

Về hôn nhân: Cho bà Thạch Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.

Về con, tài sản chung, nợ chung: Bà T khai không có nên đề nghị không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải nộp 300.000 đồng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005308 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long) thu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Ông Nguyễn Thanh L là bị đơn trong vụ án nhưng tại phiên tòa xét xử lần thứ hai ngày 29/8/2025 ông L tiếp tục vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Thạch Thị Ngọc T khởi kiện ông Nguyễn Thanh L có nơi cư trú tại ấp D, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Địa chỉ sau sáp nhập: ấp D, xã N, tỉnh Vĩnh Long) để yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn ông L, ngoài ra không yêu cầu nào khác. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2, 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 43 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật giải quyết là “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Vĩnh Long.

. Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Ngọc T và ông Nguyễn Thanh L tự nguyện kết hôn vào năm 2024, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là UBND xã N, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 19 ngày 11 tháng 4 năm 2024. Do đó, theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xác định hôn nhân của bà T và ông L là hợp pháp.

Bà T cho rằng cuộc sống hôn nhân của bà và ông L phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong việc làm kinh tế, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cự cải dẫn đến tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, không còn quan tâm đến nhau.

Đối với ông L, Toà án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho ông Nguyễn Thanh L do bà Nguyễn Thị H (là mẹ ruột ông L) nhận thay để ông L tham gia tố tụng thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Tại các phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải ngày 07/7/2025, ngày 18/7/2025 và ngày 31/7/2025 ông L đều vắng mặt không có lý do nên phiên hòa giải đoàn tụ vợ chồng không tiến hành được. Ngày 22/8/2025, Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ nhất, ông L vẫn vắng mặt nên phiên hòa giải đoàn tụ vợ chồng tại phiên tòa không tiến hành được.

Kết quả xác minh đối với ông Phùng Thanh H1 là Tổ trưởng Tổ án ninh ấp D và bà Nguyễn Thị H là mẹ ruột L cung cấp từ giữa năm 2024 đến nay bà T và L không còn sống chung.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà T và ông L đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nữa. Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ chồng thì “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, … Mục đích của cuộc sống hôn nhân là để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng hôn nhân của bà T và ông L không đạt được mục đích đó. Khi mâu thuẫn, bà T và ông L không tìm giải pháp khắc phục mà sống ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T1, cho bà T được ly hôn ông L.

. Về nuôi con: Bà T khai bà và ông L không có con chung nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về tài sản: Bà T không đặt ra yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

. Về nợ: Bà T khai không có, Hội đồng xét xử không xét.

. Về án phí: Bà T là nguyên đơn khởi kiện không thuộc trường hợp miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Xét ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là phù hợp quy định pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2, 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Điều 43 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 3, 19, 51, 53, 54, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Thạch Thị Ngọc T.

Về hôn nhân: Bà Thạch Thị Ngọc T được ly hôn ông Nguyễn Thanh L.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thạch Thị Ngọc T có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005308 ngày 04 tháng 6 năm 2025 do Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long) thu. Bà T đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Bà Thạch Thị Ngọc T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với ông Nguyễn Thanh L vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày ông nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ