- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị M và anh V"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Hồ Thị Minh M.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/02/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt
Bà Nguyễn Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Văn Tuấn là Thư ký Tòa án - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Minh M, sinh năm: 1999.
Địa chỉ: Tổ E, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Hà Trọng V, sinh năm: 1994.
Nơi thường trú: Thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ E, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an Thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 10 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - chị Hồ Thị Minh M trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở tự nguyện, chị M và anh V quen biết nhau hai năm thì đi đến kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 18/6/2019.
Trong quá trình chung sống, thời gian đầu hai vợ chồng sống bên nhà ngoại, ngay từ khi cưới nhau hai vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh V không chăm lo cho gia đình, ham chơi cùng với bạn bè, mượn tiền nhiều người xung quanh gây nợ nần để mọi người đến nhà làm phiền đến gia đình chị M đang sinh sống. Anh V còn hay nghiện G, hay đi chơi bên ngoài ít về nhà, không biết phụ giúp công việc chung của gia đình cùng chị M dẫn đến hai vợ chồng cãi nhau nên tình cảm hai vợ chồng dần xa cách. Từ năm 2021 đến nay hai vợ chồng đã sống ly thân. Trong quá trình sống ly thân anh V cũng không hỏi thăm đến vợ con. Nay nhận thấy hai vợ chồng đã hết tình cảm và không thể hàn gắn và sống chung cùng nhau được nữa. Do vậy, chị M yêu cầu được ly hôn với anh V.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung:
+ Cháu Hà Minh H, sinh ngày: 24/6/2017.
+ Cháu Hà Minh V1, sinh ngày: 05/4/2019.
Khi ly hôn, chị M yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai cháu H, cháu V1 và chị M không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay chị M đang làm công nhân tại Công ty T, thu nhập khoảng 10.000.000đ/tháng.
- Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai đề ngày 15 tháng 01 năm 2025, bị đơn - anh Hà Trọng V trình bày:
- Về hôn nhân: Anh Hà Trọng V và chị Hồ Thị Minh M quen biết nhau được hai năm thì tiến tới hôn nhân và được Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 18/06/2019. Sau kết hôn hai vợ chồng chung sống ở xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Anh V thừa nhận làm ăn thất bại và gây ra số nợ nhưng đã tự sắp xếp trả nợ không làm ảnh hưởng đến gia đình bên vợ. Đầu năm 2024, do buồn chán anh V có sử dụng ma túy. Tuy nhiên, chị M không biết việc anh V sử dụng ma túy. Ngoài ra, hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì khác, trước khi bị bắt hai vợ chồng vẫn sống hạnh phúc. Nay chị M làm đơn yêu cầu ly hôn thì anh V không đồng ý vì còn thương vợ con nên kính mong Tòa án xem xét giải quyết.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung:
+ Cháu Hà Minh H, sinh ngày: 24/6/2017.
+ Cháu Hà Minh V1, sinh ngày: 05/4/2019.
Hiện nay, các cháu đang sống cùng với chị M. Nếu trường hợp chị M nhất quyết đòi ly hôn thì sau khi chấp hành án xong anh V muốn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H. Anh V đồng ý giao cháu V1 cho chị M nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Anh Hà Trọng V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh Hà Trọng V không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được thực hiện đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, cả nguyên đơn, bị đơn đều không đến tham dự phiên tòa. Tuy nhiên, cả nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Hồ Thị Minh M và anh Hà Trọng V được ly hôn.
+ Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hà Minh H và cháu Hà Minh V1 cho chị M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời anh V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
+ Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn - chị Hồ Thị Minh M có yêu cầu ly hôn và tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chung với bị đơn - anh Hà Trọng V. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xác định anh V có đăng ký lưu trú tại phòng trọ ông Lê Văn H1 địa chỉ Tổ E, ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa (Nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt). Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Minh M và anh Hà Trọng V tiến tới hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 18/06/2019. Căn cứ các Điều 8, 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân của chị M và anh V là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Qua trình bày của các đương sự, trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy sau khi kết hôn một thời gian, cuộc sống chung của vợ chồng chị M và anh V đã xảy ra mâu thuẫn. Trong cuộc sống chung vợ chồng anh chị đã thiếu sự tin tưởng, yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, thường xảy ra bất hòa. Nguyên nhân chủ yếu là do anh V thiếu sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ và cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình với chị M, một mình chị M phải lo toan mọi việc, dần làm cho tình cảm vợ chồng phai nhạt. Anh V thường hay đi chơi, tụ tập cùng bạn bè, sử dụng ma túy và bị Viện kiểm sát thành phố B truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 249 BLHS. Qua đó nhận thấy anh V đã sống không có trách nhiệm với bản thân, gia đình.
Hiện nay anh V đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Thành phố B nên không thể đến Tòa án làm việc được. Do vậy, ngày 15/01/2025, anh V có đơn xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải và xét xử của Tòa án.
Xét mâu thuẫn giữa chị M và anh V đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của chị M là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
Về con chung: Chị M và anh V có hai con chung là cháu Hà Minh H, sinh ngày: 24/6/2017 và cháu Hà Minh V1, sinh ngày: 05/4/2019.
Xét yêu cầu của nguyên đơn: Chị M yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung là cháu H và V1. Xét thấy, hiện con chung đang sống cùng với chị M và phù hợp với nguyện vọng của con chung. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển bình thường, khỏe mạnh về thể chất và tinh thần, không làm xáo trộn cuộc sống hiện tại của con trẻ, Hội đồng xét xử xét cần giao các con chung cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng: Chị M hiện có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để chăm sóc cho con chung. Mặc dù đã được Tòa án giải thích pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng nhưng chị M không yêu cầu nên tạm thời anh V không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị M và anh V đều xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Hồ Thị Minh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất: Về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - chị Hồ Thị Minh M.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị Minh M và anh Hà Trọng V được ly hôn.
2. Về con chung:
2.1. Giao cháu Hà Minh H, sinh ngày: 24/6/2017 và cháu Hà Minh V1, sinh ngày: 05/4/2019 cho chị Hồ Thị Minh M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
2.2. Anh Hà Trọng V được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Về cấp dưỡng: Tạm thời anh Hà Trọng V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Hồ Thị Minh M không yêu cầu.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Hồ Thị Minh M phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0008217 ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai. Chị Hồ Thị Minh M đã nộp đủ án phí.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thống Nhất; - CC THADS huyện Thống Nhất; - UBND xã Nhơn Phong, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định (GNCKH số 35/2019) - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Thị Tuyết Hạnh |