vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H. Cho chị Lữ Thị H được ly hôn với anh Lương Văn N.

Về giao nuôi con chung: Giao con chung là Lương Ngọc Thảo L, sinh ngày 29/10/2021 cho chị Lữ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lương Văn N. Anh Lương Văn N có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm no…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lữ Thị Hồng và Lương Văn Năm"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H. Cho chị Lữ Thị H được ly hôn với anh Lương Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUỲ CHÂU
NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 22/5/2025
V/việc: " Tranh chấp hôn nhân và gia đình "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lim Minh Sáng và bà Hà Thị Ngọc Hiếu.

- Thư ký phiên toà: Ông Tăng Thành Vương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Vi Thị Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quỳ Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lữ Thị H. Sinh năm 1998.

Nơi cư trú: Bản Th M, xã Ch Th, huyện Q Ch, tỉnh Ng A.

Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lương Văn N. Sinh năm 1992.

Nơi cư trú: Bản , xã Ch Ph, huyện Q Ch, tỉnh Ng A.

Hiện nay đang chấp hành án tại Đội 22, phân trại số 3, Trại giam số 5, Cục C10, Bộ Công An. Địa chỉ: Thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2025, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lữ Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Lương Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Châu Thuận, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/3/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với bố mẹ đẻ của anh Lương Văn N là ông Lương Văn Th và bà Lô Thị tại bản L, xã Ch Ph, huyện Q Ch, tỉnh Ng A. Đến khoảng giữa năm 2024 thì chị H tách khẩu và chuyển về bản Th M, xã Ch Th, huyện Q Ch sinh sống. Qúa trình chung sống không hạnh phúc và xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Lương Văn N nghiện ma túy, không chịu khó làm ăn, chăm lo cho gia đình, chị H đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay, hiện nay chị H không còn tìn cảm với anh N nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Lương Văn N.

- Về quan hệ con cái: Chị Lữ Thị H và anh Lương Văn N có một người con chung tên là Lương Ngọc Thảo L, sinh ngày 29/10/2021, ngoài ra vợ chồng không nhận nuôi con nuôi và bản thân chị H không có con riêng. Ly hôn, chị H đề nghị được giao nuôi con chung và không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ: Chị Lữ Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lương Văn N trình bày: Anh N và chị Lữ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Châu Thuận, huyện Qùy Châu, tỉnh Nghệ An vào ngày 23/3/2021. Vợ chồng sống hạnh phúc đến ngày 20/12/2022 thì anh N bị bắt vì tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, kể từ đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hiện nay anh N đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam số 5, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Anh Năm đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị H. Vợ chồng có một người con chung là Lương Ngọc Thảo L, sinh ngày 29/10/2021, hiện đang ở với chị H, nếu ly hôn thì anh N đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Anh N không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và nợ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Tại phiên tòa nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn mặc dù không có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và hiện nay đang phải chấp hành án phạt tù nên không thể có mặt theo yêu cầu của Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51; 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cho chị Lữ Thị H được ly hôn anh Lương Văn N; Đề nghị giao con chung là Lương Ngọc Thảo L, sinh ngày 29/10/2021 cho chị Lữ Thị H nuôi dưỡng, chăm sóc và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lương Văn N. Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nguyên đơn và bị đơn đều cư trú tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai, mặc dù không có đơn xin vắng mặt nhưng xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của bị đơn, đồng thời Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai và thấy rằng hiện nay bị đơn đang chấp hành án phạt tù dài hạn tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ Công an đóng tại thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa nên không thể có mặt tại Tòa án để tham gia phiên tòa vì sự kiện bất khả kháng, ngoài ra bị đơn không có yêu cầu phản tố. Do đó, căn cứ vào các điểm a, b khoản 2 điều 227 và các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lữ Thị H và anh Lương Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và có đăng ký kết hôn đúng quy định của pháp luật, hôn nhân giữa chị H và anh N là hợp pháp. Quá trình chung sống giữa hai người đã xảy ra mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 12/2022 cho đến nay. Vào năm 2023 anh N bị Tòa án xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chấp ma túy và hiện đang chấp hành án tại Trại giam số 5, Cục C10, Bộ Công an đóng tại thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, anh N đồng ý ly hôn với chị H. Xét thấy, chị H và anh N đã ly thân từ tháng 12 năm 2022 cho đến nay, hiện không ai còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau nữa, hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, cho chị Lữ Thị H được ly hôn với anh Lương Văn N, điều này là phù hợp với thực tế cuộc sống và cũng phù hợp với quy định tại điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về quan hệ con cái: Chị Lữ Thị H và anh Lương Văn N có một người con chung là Lương Ngọc Thảo L, sinh ngày 29/10/2021, ngoài ra không ai có con riêng và nhận con nuôi. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án thì anh N đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng. Xét thấy, việc giao nuôi dưỡng con chung chưa thành niên xuất phát từ việc cần phải đảm bảo quyền lợi về mọi mặt để cho con có thể phát triển bình thường, ăn học, khôn lớn và trưởng thành, đồng thời cũng xem xét đến khả năng của người được giao nuôi dưỡng con chung. Thấy rằng hiện nay bản thân anh N đang phải đi chấp hành án phạt tù dài hạn tại Trại giam số 5. Bản thân chị H có sức khỏe, có công ăn việc làm và thu nhập ổn định. Do đó, việc giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật cũng như ý kiến của các bên. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung cho chị Lữ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lương Văn N. Sau này nếu giữa các bên có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về tài sản và nợ: Chị Lữ Thị H và anh Lương Văn N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét. Sau này nếu giữa các bên có yêu cầu giải quyết về chia tài sản và nợ chung thì sẽ được xem xét, giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Căn cứ điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lữ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị H. Cho chị Lữ Thị H được ly hôn với anh Lương Văn N.

- Về giao nuôi con chung: Giao con chung là Lương Ngọc Thảo L, sinh ngày 29/10/2021 cho chị Lữ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Lương Văn N.

Anh Lương Văn N có quyền, nghĩa vụ đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích chung về mọi mặt của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Chị Lữ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền chị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009867 ngày 12 tháng 3 năm 2025. Chị Lữ Thị H đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Các bên đều được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ