vanban.org

Bản án 11/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; các Điều: 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, th…

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tạ Thị Ng. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Thị Ng với anh Nguyễn Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ng - H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; các Điều: 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, th…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
H TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/3/2025.
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Khánh.

Các hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Tâm;

2. Bà Lê Thị Kim Chung.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thành Huế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Ng tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Ng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2024/ TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXX - HNGĐ ngày 27 tháng 2 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Ng đơn: Chị Tạ Thị Ng, sinh năm:1990

Địa chỉ: Xóm TX, xã NM, huyện PB, tỉnh Thái Ng, (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Xóm T, xã PT, huyện Đ, tỉnh Thái Ng, (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không có.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Ng đơn chị Tạ Thị Ng trình bày như sau:

Chị và anh Nguyễn Văn H có tìm hiểu nhau một thời gian, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Đ ngày 22/10/2019. Sau khi kết hôn chị và anh H chung sống tại nhà anh H tại xóm Tổ, xã PT, huyện Định Hoá được một thời gian, sau đó chị và anh H đi làm công nhân tại thành phố Sông Công, tỉnh Thái Ng, đến năm 2020 anh H về nhà và mở quán bán hàng cơm tại thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hoá. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn bắt đầu xảy ra từ giữa năm 2020. Ng nhân mâu thuẫn do anh H không tu trí làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè uống rượu, không cùng chị chăm sóc con và gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi cọ nhau, mặc dù anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn giữa anh chị vẫn xảy ra. Chị và anh H sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 đến nay. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chống đã trầm trọng, tình cảm không còn, không còn quan tâm đến anh H nữa, chị cương quyết xin được ly hôn.

Về con chung: Chị Ng xác định chị và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 15/11/2019. Khi ly hôn chị Ng yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay chị có công việc và chỗ ở ổn định.

Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị Ng xác định chị và anh H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H có đề nghị xét xử vắng mặt. Trong quá trình giải quyết tại biên bản làm việc anh H trình bày:

Anh và chị Ng được tự nguyện tìm hiểu nhau, được hai bên gia đình đồng ý tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn ngày 22/10/2019 tại Ủy ban nhân dân xã PT, huyện Đ. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại nhà anh tại xóm Tổ, xã PT, huyện Định Hoá. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, trong cuộc sống anh chị có những mâu thuẫn nhưng chỉ là những mâu thuẫn nhỏ trong gia đình, dẫn đến anh chị có cãi cọ nhau. Từ năm 2021, chị Ng tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại huyện Phú Bình sinh sống, không quan tâm đến anh và gia đình, anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị Ng xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Anh H xác định, anh và chị Ng có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 15/11/2019. Trong trường hợp chị Ng cương quyết xin ly hôn, anh yêu cầu chị Ng tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành. Việc cấp dưỡng nuôi con chung anh và chị Ng tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Anh H xác định anh và chị Ng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh H không đến Tòa án làm việc, chị Ng đã yêu cầu Tòa án không tiếp tục hòa giải. Vì vậy, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Trước khi nghị án, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Ng đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo pháp luật tố tụng, bị đơn anh Ng Văn H từ khi Tòa án thụ lý vụ án, anh không đến Tòa án làm việc theo quy định pháp luật về tố tụng dân sự, việc cấp giao tống đạt văn bản tố tụng, thu thập tài liệu chứng cứ, thủ tục tố tụng, thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ng, cho chị Tạ Thị Ng được ly hôn anh Nguyễn Văn H;

Về con chung: Giao cháu là Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 15/11/2019 cho chị Ng trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu Khang trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh H do chị Ng không yêu cầu.

Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị Ng và anh H đều xác định không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ng phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ ý kiến đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của Ng đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Ng đơn và bị đơn trong vụ án đều có nơi cư trú tại huyện Đ, tỉnh Thái Ng, vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Định Hoá theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp lấy lời khai của đương sự nên việc xét xử có sự tham gia của Kiểm sát viên theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của anh H: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến ngày mở phiên tòa anh H không đến Toa án làm việc. Tòa án đã phải đến nơi cư trú của anh H để xác minh và lập biên bản làm việc. Anh H có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt và anh không có khiếu nại gì. Tại phiên tòa chị Ng không đề nghị hoãn, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt anh H. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh H theo Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về quan hệ hôn nhân và về yêu cầu xin ly hôn của chị Ng thấy rằng:

Chị Tạ Thị Ng và anh Nguyễn Văn H quen biết và có thời gian tự nguyện tìm hiểu nhau, được sự đồng ý của hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, được đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, giữa chị Ng và anh H nảy sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 đến nay không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không đến tham gia phiên tòa và có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Ng, cho chị Ng được ly hôn anh H là có căn cứ.

Về con chung: Chị Ng và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 15/11/2019. Từ khi ly thân chị Ng là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và hiện đang cư trú, ăn ở, học tập ổn định. Để đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung căn cứ các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, khi ly hôn cần giao con chung cho chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Khang trưởng thành là có căn cứ. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Ng tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung cần được chấp nhận.

Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Chị Ng và anh H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tạ Thị Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; các Điều: 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tạ Thị Ng.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Thị Ng với anh Nguyễn Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh Khang, sinh ngày 15/11/2019 cho chị Tạ Thị Ng trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi cháu Khang trưởng thành (đủ 18 tuổi), lao động tự túc được. Anh Nguyễn Văn H có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Nguyễn Văn H do chị Tạ Thị Ng tự nguyện không yêu cầu.

3. Về tài sản chung và các khoản cho vay, khoản nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Tạ Thị Ng phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên lai thu số 0006353, ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Ng.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt Ng đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

N

Cỡ chữ