- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án về ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày: 21/01/2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Lương Thanh Hải
2. Ông: Lò Văn Trực
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân-Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa:
Bà: Trần Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 140/2024/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2025/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Th, sinh năm: 1994
Trú tại: Thôn Đ, xã C, Bá Thước, Thanh Hóa.
Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lương Văn B, sinh năm: 1991
Trú tại: Thôn Đ, xã C, Bá Thước, Thanh Hóa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/11/2024, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Th trình bày: Chị và anh B tìm hiểu trong khoảng 03 năm, tự nguyện kết hôn, có tổ chức cưới theo tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn ngày 12/3/2024 tại UBND xã C, huyện B, Thanh Hóa. Hôn nhân hạnh phúc được thời gian đầu, khi con được khoảng 02 tuổi thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do thời điểm đó chị nuôi con nhỏ, không đi làm được, kinh tế phụ thuộc vào anh B nên vợ chồng tranh cãi, những năm gần đây con lớn đi học, địa phương phát triển về du lịch nên chị có đi làm phục vụ và hướng dẫn khách du lịch thì anh B lại sinh ra ghen tuông vô cớ, không tin tưởng vợ khiến hai bên thường xuyên mâu thuẫn, tranh cãi. Gần đây nhất dịp 20/10/2024 vợ chồng con cái về nhà ngoại ăn cơm, khi có rượu và anh B lại có những lời lẽ không đúng mực khiến vợ chồng tranh cãi, xúc phạm lẫn nhau. Vì vậy vợ chồng ly thân đã khoảng 1 tháng nay, anh B đi làm công ty vợ chồng không còn liên hệ, quan tâm gì đến nhau. Nay xét thấy vợ chồng không tin tưởng và tôn trọng nhau thì hôn nhân không thể tiếp tục duy trì, vì vậy chị có nguyện vọng được ly hôn với anh B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lương Bảo L, sinh ngày 30/6/2015. Tại đơn khởi kiện chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000đ cho đến khi cháu thành niên. Ngày 13/11/2024 chị Th có đơn thay đổi yêu cầu cấp dưỡng khi nuôi con: Khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Bảo L và chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: Chị không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án đã trực tiếp đến gia đình anh B xác minh và giao nhận văn bản nhưng anh B không đến tòa án làm việc, chị Th đề nghị không tiến hành hoà giải. Vì vậy vụ án thuôc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng anh B không đến làm việc. Anh B cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị Th đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa chủ tọa phiên tòa cho công bố đơn xin xét xử vắng mặt của nguyên đơn và toàn bộ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Căn cứ điều 227, 228, 238 của BLTTDS tiến hành xét xử vắng mặt các bên đương sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 238 BLTTDS; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Hà Thị Th, xử cho chị Th được ly hôn anh B.
Về con chung: Giao cháu Lương Bảo L, sinh ngày 30/6/2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh B có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm.
Về tài sản, công nợ: Chị Th không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có hộ khẩu ở huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc TAND huyện B được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai dù đã được tống đạt hợp lệ. Vì vậy, tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về hôn nhân: Chị Th và anh B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 12/3/2024 tại UBND xã C, huyện B, Thanh Hóa nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống do vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau dẫn đến mâu thuẫn trần trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay, quá trình ly thân không ai còn quan tâm đến ai, việc này phù hợp với biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của Tòa án. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày một trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Th được ly hôn anh B.
Về con chung: Vợ chồng có có 01 con chung là Lương Bảo L, sinh ngày 30/6/2015. Vợ chồng ly hôn chị Th có nguyện vọng tiếp tục trực tiếp nuôi cháu L và không yêu cầu anh B cấp dưỡng tiền nuôi con chung, cháu L cũng có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ, vì vậy ly hôn giao cháu L cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế và các quy định của pháp luật.
Về tài sản, công nợ chung: Chị Th không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Th được ly hôn anh Lương Văn B.
Về con chung: Giao cháu Lương Bảo L, sinh ngày 30/6/2015 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến tuổi thành niên, anh B không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh B có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm.
Về tài sản, công nợ chung: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị Th phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B theo biên lai thu ký hiệu: BLTU/23 số 0006027 ngày 05/11/2024. Chị Th đã nộp đủ án phí.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 9 Luật thi hành án dân sư, thời hiệu thi hành án được thi hành án được thực hiện hiện theo quy định tại điều 30 – Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện B; - Các đương sự; - UBND xã C; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS huyện B; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Hội thẩm nhân dân Lƣơng Thanh Hải Lò Văn Trực | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vũ Văn Nga Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Vũ Văn Nga |