vanban.org

Bản án 11/2025/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Tiên Phong về việc:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc. 1. Buộc bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong số tiền 1.275.146.923đ (Một tỷ ha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Tiên Phong - Hoàng Kim Nam, Bùi Thị Bảo Ngọc"
  • Tòa quyết gì? 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11 /2025/DSST
Ngày: 18/8/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - KHÁNH HÒA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Nam Hoa

- Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Đào Thanh Tùng

Ông Nguyễn Ngọc Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Nguyễn Bảo Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1

- Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên

Ngày 18/8/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa mở phiên toà xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 400/2024/ TLST - DS ngày 03 tháng 12 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Tiên Phong

Trụ sở: Tòa nhà TPBank, số 57 Lý Thường Kiệt, phường Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm (nay là phường Cửa Nam), thành phố Hà Nội.

* Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh Phú - Chức vụ: Chủ tịch HĐQT

* Đại diện theo ủy quyền:

1/ Ông Nguyễn Văn Thắng

2/ Ông Nguyễn Song Dũng

3/ Ông Phạm Chí Cương

4/ Ông Lê Nhất Tín

5/ Ông Trần Trọng Phú

6/ Bà Trần Nguyễn Nhật Oanh

Cùng địa chỉ: 48 Thích Quảng Đức, phường Nam Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Theo Giấy ủy quyền số 324/2025/GUQ-TPB.LC ngày 27/3/2025.

Các ông Thắng, Dũng, Cương, Tín, Phú đều vắng mặt.

Bà Oanh có mặt

*Bị đơn: Ông Hoàng Kim Nam, bà Bùi Thị Bảo Ngọc

Cùng địa chỉ: 12/36 Lý Tự Trọng, phường Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

Ông Nam có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Ngọc vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/7/2023, tại các bản tự khai đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng TMCP Tiên Phong, bà Trần Nguyễn Nhật Oanh trình bày:

Năm 2023, ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc có ký kết với Ngân hàng TMCP Tiên Phong Hợp đồng cho vay từng số 241/2023/HĐTD/NKH ngày 10/8/2023; số tiền vay 1.110.000.000đ, thời hạn vay: 360 tháng; Thời hạn thanh toán cuối cùng ngày 10/8/2053. Để đảm bảo cho khoản vay trên của ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc có thế chấp tài sản cho Ngân hàng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thửa đất số 168, tờ bản đồ số 16, diện tích 976,4m2; Địa chỉ: Thôn Quang Đông, xã Ninh Đông (nay là phường Ninh Hòa), tỉnh Khánh Hòa.

Quá trình vay vốn của Ngân hàng, ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngân hàng đã nhiều làm làm việc và gửi thông báo Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc đề nghị thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nhưng Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc vẫn không thực hiện.

* Về yêu cầu khởi kiện: Ngân hàng yêu cầu Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong tổng số tiền cả gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/8/2025 là 1.275.146.923 đồng, trong đó nợ gốc là 1.110.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 152.328.563 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.333.281 đồng và tiền lãi chậm trả là 9.485.079 đồng làm một lần ngay. Khoản tiền lãi phát sinh Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải tiếp tục trả tính từ ngày 19/8/2025 hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên.

Trường hợp Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc không thanh toán đầy đủ các khoản nợ đã và đang phát sinh cho Ngân hàng sẽ yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền kê biên, phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp nhà, đất thửa đất số 168, tờ bản đồ số 16, diện tích 976,4m2; Địa chỉ: Thôn Quang Đông, xã Ninh Đông (nay là phường Ninh Hòa), tỉnh Khánh Hòa.

- Ý kiến của bị đơn ông Nam, bà Ngọc trình bày tại các bản trình bày ý kiến ngày 12/02/2025; 22/7/2025: Chúng tôi đồng ý với trình bày của nguyên đơn về việc ký hợp đồng và số tiền hiện nay chúng tôi còn nợ của Ngân hàng. Tuy nhiên, thời gian vừa qua hộ kinh doanh yến và thu nhập của gia đình gặp nhiều khó khăn, thiếu hụt về tiền bạc, tài chính dẫn đến chậm trả lãi hàng tháng cho Ngân hàng. Chúng tôi cũng đã đến trực tiếp Ngân hàng Tpbank - Phòng giao dịch Nam Khánh Hòa nhiều lần để trình bày khó khăn gặp phải và đã gửi giấy đề nghị cơ cấu nợ, miễn lãi và cam kết sẽ sử dụng hiệu quả thời gian cơ cấu, nỗ lực phục hồi công việc và đảm bảo hoàn thành nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng trong thời gian sớm nhất.

- Về án phí: Do Ngân hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn nên đề nghị TPBank phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng phát sinh trong vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc nhưng ông Nam, bà Ngọc đều vắng mặt, nên không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Tiên Phong đối với ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc là có cơ sở, yêu cầu về cách tính lãi để thu hồi nợ là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 91, 92, 94 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 298, Điều 317, Điều 401 của Bộ luật dân sự 2015 nên đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải trả cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong tổng số tiền cả gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/8/2025 là 1.275.146.923 đồng (trong đó nợ gốc là 1.110.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 152.328.563 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.333.281 đồng và tiền lãi chậm trả là 9.485.079 đồng) làm một lần ngay và tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày 19/8/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ theo mức lãi suất do các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Trường hợp ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc không thanh toán trả cho Ngân hàng nợ gốc và lãi thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản đảm bảo để thi hành án. Về án phí: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

1.1. Ngân hàng TMCP Tiên Phong khởi kiện ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc. Đây là tranh chấp phát sinh trong dân sự giữa cá nhân và tổ chức Ngân hàng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nên Tòa án nhân dân khu vực 1 - Khánh Hòa thụ lý, giải quyết vụ án dân sự và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng tín dụng.

1.2. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc đều vắng mặt; Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên.

Về nội dung:

2.1. Hợp đồng cho vay từng số 241/2023/HĐTD/NKH ngày 10/8/2023 và Hợp đồng thế chấp bất động sản số 234/2023/HĐBĐ/NKH ngày 09/8/2023 là những tình tiết sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.

2.2.Trong quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày 10/8/2023 đến ngày 25/4/2024, ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc đã thanh toán được 79.057.995 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 26/4/2024 đến nay ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc liên tiếp vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng và vi phạm thời hạn trả nợ theo quy định tại Điều 4 của Hợp đồng cho vay từng số 241/2023/HĐTD/NKH ngày 10/8/2023 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, việc Ngân hàng TMCP Tiên Phong khởi kiện yêu cầu ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc trả nợ do vi phạm hợp đồng tín dụng là có cơ sở.

2.3. Xét yêu cầu của Ngân hàng TMCP Tiên Phong về việc yêu cầu ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải trả cho Ngân hàng các khoản tiền tổng cộng cả gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/8/2025 là 1.275.146.923 đồng (trong đó nợ gốc là 1.110.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 152.328.563 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.333.281 đồng và tiền lãi chậm trả là 9.485.079 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 19/8/2025 cho đến khi trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.

Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng cho vay từng số 241/2023/HĐTD/NKH ngày 10/8/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Tiên Phong với ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được thừa nhận và bảo vệ, các bên tham gia trong giao dịch này có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.

Lãi suất, phí được tiếp tục tính kể từ ngày 08/7/2025 trên số dư nợ gốc theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng số 241/2023/HĐTD/NKH ngày 10/8/2023 cho đến khi ông ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc thanh toán xong khoản nợ là phù hợp với Điều 3 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

Từ những nhận định trên buộc ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải thanh toán tổng số tiền cả gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 18/8/2025 là 1.275.146.923 đồng (trong đó nợ gốc là 1.110.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 152.328.563 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.333.281 đồng và tiền lãi chậm trả là 9.485.079 đồng).

2.4. Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng TMCP Tiên Phong:

Xét: Hợp đồng thế chấp bất động sản số 234/2023/HĐBĐ/NKH ngày 09/8/2023 giữa Ngân hàng TMCP Tiên Phong và ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc đã được công chứng và đăng ký thế chấp tại Văn phòng Công chứng Trung Tâm, nên hợp đồng thế chấp này là hợp pháp. Do vậy, khi ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi của hợp đồng là xâm phạm quyền lợi của Ngân hàng TMCP Tiên Phong nên tài sản thế chấp mà ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc đã thế chấp cho Ngân hàng để bảo lãnh cho khoản nợ vay của ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật trong quá trình thi hành án nếu ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc không thi hành các khoản nợ trên.

Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc không thanh toán trả cho Ngân hàng nợ gốc và lãi thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản đảm bảo để thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng thế chấp bất động sản số 234/2023/HĐBĐ/NKH ngày 09/8/2023, giữa Ngân hàng TMCP Tiên Phong và ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc được Công chứng viên - Văn phòng công chứng Trung Tâm chứng thực có giá trị pháp lý nên được chấp nhận.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP Tiên Phong tự nguyện chịu (đã nộp, đã chi).

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Tiên Phong được chấp nhận nên bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải chịu án phí DS-ST là 50.254.408 đồng theo quy định của pháp luật.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003355 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35;điểm a khoản 1 Điều 39; Điều

147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 91, 92, 94 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Điều 298, Điều 317, Điều 401, Điều 463 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 3 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Tiên Phong về việc:“Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc.

1.1. Buộc bị đơn ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong số tiền 1.275.146.923đ (Một tỷ hai trăm bảy mươi lăm triệu một trăm bốn mươi sáu nghìn chín trăm hai mươi ba đồng). Trong đó nợ gốc là 1.110.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 152.328.563 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.333.281 đồng và tiền lãi chậm trả là 9.485.079 đồng làm một lần ngay.

1.2. Kể từ ngày xét xử sơ thẩm (19/8/2025) ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay từng số 241/2023/HĐTD/NKH ngày 10/8/2023.

2. Xử lý tài sản thế chấp: Khi ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc thanh toán xong khoản tiền nêu trên thì Ngân hàng TMCP Tiên Phong có trách nhiệm trả lại cho ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc bản chính Giấy chứng nhận QSD đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL 715754, số vào sổ cấp GCN CN-04568 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã Ninh Hòa cấp ngày 21/7/2023 cho ông Hoàng Kim Nam.

Trường hợp ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc không thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong nợ gốc và lãi thì Ngân hàng TMCP Tiên Phong có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản đảm bảo để thi hành án.

3. Về án phí: Ông Hoàng Kim Nam và bà Bùi Thị Bảo Ngọc phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 50.254.408đ (năm mươi triệu hai trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm lẻ tám đồng).

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP Tiên Phong số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 22.929.000đ (hai mươi hai triệu chín trăm hai mươi chín đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003355 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa).

4. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP Tiên Phong tự nguyện chịu (đã nộp, đã chi).

Quy định chung: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đào Thanh Tùng

Nguyễn Ngọc Ngân

Nguyễn Thị Nam Hoa * Nơi nhận:

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

Cỡ chữ