vanban.org

Bản án 11/2025/DSST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 02/2022/HĐTPngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Lê Công T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại."
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 02/2022/HĐTPngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 11/2025/DSST
Ngày: 15/01/2025
V/v: Yêu cầu BTTH do sức khỏe bị xâm hại.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Trúc

- Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu

- Bà Hồ Thị Kim Luyến

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Ngày 15 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm số: 687/2024/TLST-DSST ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 933/2024/QĐST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 399 ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Phạm Lê Công T, sinh năm 1997.

Địa chỉ: 031 ấp L B, xã T, huyện P, Tp. C .

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Công K, sinh năm 1973.

Địa chỉ: 031 ấp L B, xã T, huyện P, Tp. C .

* Bị đơn: Công ty Cổ phần đô thị C.

Địa chỉ: Số 05 V, P. A, Q. K, Tp. C.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thạch E– Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Phúc T2.

Địa chỉ: 80 N, P. N, Q. K, Tp. C.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1971.

Địa chỉ: 031 ấp L B, xã T, huyện P, Tp. C .

(Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 6 năm 2024 và quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Phạm Lê Công T là ông Phạm Công K trình bày:

Năm 2020 Phạm Lê Công T bị Lê Hoàng M là lái xe của Công ty Cổ phần đô thị C gây tai nạn giao thông thương tích 78%, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã giải quyết theo bản án số 18/2022/HS-PT ngày 14 tháng 03 năm 2022. Số tiền buộc bị cáo Lê Hoàng M và Công ty Cổ phần đô thị C bồi thường cho Ttổng cộng là 489.769.523 đồng, khấu trừ vào số tiền đã nộp khắc phục hậu quả là 205.500.000 đồng. Số tiền còn lại phải bồi thường là 284.269.523 đồng. Tđã nhận đủ số tiền này.

Thời gian sau đó Tvẩn tiếp tục điều trị thương tích. Nay Tkhởi kiện yêu cầu Công ty Cổ phần đô thị C tiếp tục bồi thường cho Tcho phí điều trị từ ngày 14 tháng 03 năm 2022 đến năm 2024 để gia đình có chi phí tiếp tục điều trị cho Tiến. Số tiền yêu cầu bao gồm:

1. Hóa đơn bệnh viện tổng cộng 20.743.240 đồng.

2. Hóa đơn tiền thuốc Trung Sơn tổng cộng 2.429.200 đồng.

3. Tiền mua bách hóa, sữa, nước yến tổng cộng 4.334.000 đồng

4. Tiền xe tổng cộng 3.593.000 đồng.

5. Tiền phục hồi sức khỏe, tiền thuốc bổ, tiền ăn uống của T trong thời gian dưỡng bệnh đến lúc đi làm lại (tháng 3 năm 2023) là 12 tháng: 300.000đ/ ngày x 12 tháng = 108.000.000 đồng.

6. Tiền T nghỉ việc không đi làm là 12 tháng (từ ngày 14/3/2022 đến tháng 3 năm 2023): 01 tháng 5.000.000 x 12 tháng = 60.000.000 đồng.

7. Tiền mẹ của T nghỉ làm, không chăn nuôi, không buôn bán được để ở nhà chăm sóc T đến lúc T đi làm lại là 12 tháng (từ ngày 14/3/2022 đến tháng 3 năm 2023): 6.000.000/tháng x 12 tháng = 72.000.000 đồng.

Tổng cộng hết là: 271.098.440 đồng (hai trăm bảy mươi mốt triệu không trăm chín mươi tám nghìn bốn trăm bốn mươi đồng).

* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C là ông Nguyễn Phúc T2 trình bày: Bị đơn Cổ phần đô thị C chỉ thống nhất bồi thường cho nguyên đơn các khoản chi phí có hóa đơn gồm: Hóa đơn bệnh viện: 20.743.240đồn; Hóa đơn tiền thuốc: 2.429.200đồng; Hóa đơn bách hóa: 4.334.000đồng; Hóa đơn tiền xe: 3.539.000đồng. Tổng cộng là: 31.045.000đồng.

Đối với các khoản: Tiền dưỡng bệnh trong 12 tháng của T là: 108.000.000đồng; Tiền T nghỉ việc 12 tháng: 60.000.000đồng và tiền mẹ của T nghỉ việc chăm sóc cho Ttrong thời gian T phục hồi tại nhà 12 tháng bằng 72.000.000đồng. Các khoản này bị đơn không đồng ý bồi thường vì các phần này đã được giải quyết tại bản án hình sự và bị đơn đã bồi thường xong. Đồng thời các khoản này không có hóa đơn chứng từ.

* Người liên quan bà Lê Thị Kim H trình bày: Bà là mẹ của Phạm Lê Công T. Thời gian T xuất viện về nhà còn rất yếu phải ngồi xe lăn, T không tự chăm sóc bản thân từ ăn uống, tắm rửa, vệ sinh cá nhân và tập luyện vật lý trị liệu để phục hồi. Bà phải ở cạnh để chăm lo cho T. Suốt thời gian này bà không thể đi làm nên bị mất thu nhập. Trước ngày T bị tai nạn bà buôn bán nhỏ và nuôi lươn. Từ khi T bị tai nạn bà phải nghỉ việc nên bà yêu cầu bị đơn bồi thường cho bà Tiền mất thu nhập bằng số tiền 6.000.000đồng/tháng, bằng số tiền công nhận tại bản án hình sự chấp nhận, thời gian là 12 tháng bằng số tiền ̃72.000.000đồng.

Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất yêu cầu bị đơn bồi thường các khoản tiền trên trong khoảng thời gian là 11 tháng thay vì 12 tháng như tại đơn khởi kiện bởi từ tháng 3/2023 T đã trở lại làm việc. Đại diện bị đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định.

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ theo đơn khởi kiện và lời trình bày của nguyên đơn. Xét đây là quan hệ: “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại”được quy định tại khoản 6 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Việc Phạm Lê Công T bị Nguyễn Hoàng M là lái xe của Công ty Cổ phần đô thị C gây tai nạn đã được xét xử tại bản án hình sự số 18/2022/HS-PT ngày 14 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ nên đây là sự kiện pháp lý không cần phải chứng minh. Yêu cầu này thuộc trường hợp bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C bồi thường. Do vậy không cần thiết phải đưa Nguyễn Hoàng M tham gia tố tụng trong vụ kiện.

Về căn cứ khởi kiện:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phạm Lê Công T về việc yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C bồi thường chi phí điều trị.

Xét thấy: Nguyên đơn ông Phạm Lê Công T bị Nguyễn Hoàng Minh là lái xe của Công ty Cổ phần đô thị C gây tai nạn đã được xét xử tại bản án số 18/2022/HS-PT ngày 14 tháng 03 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng M và Công ty Cổ phần đô thị C liên đới bồi thường cho ông Phạm Lê Công T tổng số tiền là 489.769.523 đồng. Nguyên đơn đã nhận đủ số tiền này. Số tiền là 489.769.523 đồng mà ông Nguyễn Hoàng Minh và Công ty Cổ phần đô thị C bồi thường cho ông Phạm Lê Công T là chi phí mà Tđiều trị từ khi Tbị tại nạn đến trước ngày xét xử vụ án hình sự. Các chứng từ mà nguyên đơn cung cấp cho lần khởi kiện này là cho phí điều trị của T thời điểm sau khi xét xử vụ án hình sự cho đến nay.

Trong các khoản mà nguyên đơn yêu cầu, phía bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C thống nhất bồi thường các khoản bao gồm: Hóa đơn bệnh viện: 20.743.240 đồng; Hóa đơn tiền thuốc: 2.429.200đồng; Hóa đơn bách hóa: 4.334.000đồng và hóa đơn tiền xe: 3.539.000đồng. Tổng cộng là: 31.045.000đồng nên ghi nhận.

Đối với các khoản chi phí còn lại bao gồm: Tiền dưỡng bệnh trong 12 tháng của T là: 108.000.000đồng; Tiền T nghỉ việc 12 tháng: 60.000.000đồng và tiền mẹ của T nghỉ việc chăm sóc cho Ttrong thời gian T phục hồi tại nhà 12 tháng bằng 72.000.000đồng. Bị đơn không đồng ý bồi thường vì các khoản này đã được giải quyết tại bản án hình sự và bị đơn đã bồi thường xong. Đồng thời các khoản này không có hóa đơn chứng từ.

Đối với các khoản đương sự chưa thống nhất với nhau, Hội đồng xét xử nhận thấy:

* Về thu nhập bị mất: Tại thời điểm bị tai nạn Phạm Lê Công T là nhân viên hợp đồng thử việc với Công ty Cổ phần thẩm định và đầu tư Tài chính Bưu điện ký kết ngày 01/10/2020, mức lương là 5.000.000đồng/tháng. Sau khi gặp tai nạn Tphải nghỉ việc và không được nhận lương. Đến tháng 3 năm 2024 T mới được Công ty ký hợp đồng làm việc trở lại với mức lương 5.000.000đồng/tháng. Như vậy tính từ tháng 4/2022 (sau thời điểm xét xử tại bản án số 18/HSPT ngày 14/3/2022 của TAND Tp. Cần Thơ) đến tháng 02/2023 T vẩn đang điều trị thương tích chưa thể quay trở lại làm việc nên không được nhận lương. Việc T yêu cầu bị đơn bồi thường tiền nghỉ việc trong thời gian 11 tháng x 5.000.000đồng/tháng bằng số tiền 55.000.000đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

* Về chi phí cho người chăm sóc cho Tiến: Thời gian đó T vẩn liên tục đến bệnh viện thăm khám, nhập viện để điều trị và tập vật lý trị liệu để phục hồi. Việc cần một người bên cạnh để hỗ trợ cho T là cần thiết. Bà Lê Thị Kim H là mẹ ruột và là người túc trực chăm sóc, theo Ttrong suốt thời gian điều trị phục hồi. Việc T yêu cầu bồi thường chi phí cho người chăm sóc mình là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 3 Nghị quyết 02/2022/HĐTPngày 06/9/2022 có hiệu lực ngày 01/01/2023 nên được chấp nhận. Bà H là lao động tự do nên lấy mức thu nhập trung bình tại địa phương là 200.000 đồng/ngày là phù hợp. Như vậy, số tiền bồi thường sẽ là 11 tháng x 6.000.000đồng/tháng = 66.000.000đồng.

* Về tiền dưỡng bệnh: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Nghị quyết 02/2022/HĐTP ngày 06/9/2022 có hiệu lực ngày 01/01/2023 quy định đối với Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án. Như đã nhận định trên, mức thu nhập trung bình tại địa phương nơi T sinh sống là 200.000.000đồng/ngày. Do vậy chỉ có căn cứ chấp nhận mức 200.000đồng/ngày thay vì 300.000đồng/ngày như nguyên đơn yêu cầu. Như vậy, tiền dưỡng bệnh Tđược nhận sẽ là là 11 tháng x 6.000.000đồng/tháng = 66.000.000đồng.

Buộc bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C có trách nhiệm bồi thường các khoản tiền trên cho nguyên đơn Phạm Lê Công T số tiền trên.

Sau khi thực hiện việc bồi thường khoản tiền trên cho nguyên đơn. Bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả cho mình một khoản tiền theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc trường hợp không phải chịu án phí nên nguyên đơn không phải chịu án phí đối với phần không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 6 Điều 26, 35, 147 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 590; Điều 597; Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Nghị quyết 02/2022/HĐTPngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Tuyên án:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Lê Công T.

Buộc bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C có trách nhiệm bồi thường cho nguyên đơn ông Phạm Lê Công T số tiền tổng cộng là 218.045.440đồng (Hai trăm mười tám triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn bốn trăm bốn mươi đồng). (Trong đó: Hóa đơn bệnh viện: 20.743.240đồng; Hóa đơn tiền thuốc: 2.429.200đồng; Hóa đơn bách hóa: 4.334.000đồng; Hóa đơn tiền xe: 3.539.000đồng; Thu nhập bị mất: 55.000.000đồng; Chi phí cho người chăm sóc là 66.000.000 đồng; Tiền dưỡng bệnh: 66.000.000 đồng).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần đô thị C phải chịu 10.902.000 đồng (Mười triệu chín trăm lẻ hai ngàn đồng).

3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ