vanban.org

Bản án 11/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 385, điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, qu…

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Y, buộc anh Tạ Văn T phải có nghĩa vụ trả cho chị Tạ Thị Y số tiền là 15.000.000 đồng, buộc chị Vi Thị T1 phải có nghĩa vụ trả cho chị Tạ Thị Y số tiền là 15.000.000 đồng. Về án phí: Anh Tạ Văn T phải chịu 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; chị Vi Thị T1 p… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "TC hợp đồng vay TS"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 385, điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, qu…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS-ST
Ngày 20-02-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Oanh Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hữu Huân

2. Bà Nguyễn Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 164/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-DS ngày 06/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-DS ngày 22/01/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Y, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Văn L, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang (có mặt).

2. Bị đơn: Anh Tạ Văn T, sinh năm 1985 (vắng mặt) và chị Vi Thị T1, sinh năm 1990 (vắng mặt); cùng địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai có trong hồ sơ, nguyên đơn là chị Tạ Thị Y trình bày:

Chị là em gái ruột của anh Tạ Văn T. Năm 2019, anh T có xây nhà, do thiếu tiền nên đến năm 2020 anh T có mượn tiền của chị. Số tiền anh T vay chị là 30.000.000 đồng. Việc anh T vay tiền không lập hợp đồng hay giấy tờ gì mà chỉ thỏa thuận miệng với nhau. Hai bên không thỏa thuận lãi suất hay thời hạn trả nợ mà chỉ thỏa thuận khi nào có thì anh T sẽ trả. Hiện nay, số tiền trên anh T chưa trả cho chị.

Hiện nay chị Vi Thị T1 và anh Tạ Văn T đã giải quyết ly hôn. Do chị T1 và anh T còn nợ chị số tiền là 30.000.000 đồng, số tiền này là do chị T1 và anh T còn nợ của chị từ năm 2020 chưa trả nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam giải quyết buộc anh T và chị T1 phải có nghĩa vụ trả cho chị tổng số tiền là 30.000.000 đồng.

Chị xác định số tiền 30.000.000 đồng anh T và chị T1 còn nợ chị là tiền riêng của một mình chị, không liên quan đến chồng chị, chị đề nghị Tòa án không đưa chồng chị vào tham gia tố tụng và đề nghị anh T và chị T1 phải trả cho một mình chị số tiền 30.000.000 đồng.

Ngoài ra, chị Tạ Thị Y không có yêu cầu nào khác.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông L1 là ông Tạ Văn L trình bày:

Ông là người đại diện theo ủy quyền của chị Tạ Thị Y, ông đồng ý tiếp tục nhận ủy quyền của chị Tạ Thị Y để tham gia giải quyết vụ án. Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Y thì ông nhất trí, đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của chị Y.

Ngoài ra, ông Tạ Văn Lưu K còn ý kiến nào khác.

* Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, bị đơn là anh Tạ Văn T trình bày:

Anh và chị Y là anh em ruột. Tháng 8.2019, anh và chị T1 có làm nhà nhưng do thiếu tiền, anh chị có vay mượn anh em trong nhà. Anh và chị T1 có đặt vấn đề vay chị Y số tiền 30.000.000 đồng để xây nhà. Chị Y đồng ý cho vay và đưa tiền mặt cho hai anh chị. Do chưa có tiền nên anh chị chưa trả được cho chị Y số tiền trên.

Đối với yêu cầu khởi kiện của chị Y, anh có ý kiến như sau: Anh đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị Y. Thời điểm đó anh có vay của chị Y số tiền là 30.000.000 đồng. Số tiền này trực tiếp chị Y đưa tiền mặt cho anh chị. Số tiền này là của riêng chị Y đưa cho anh chị chứ không liên quan gì đến anh Đoàn Văn D là chồng của chị Y. Khi chị Y đưa tiền cho anh và chị T1 thì hai bên không lập biên bản gì, do anh em ruột trong nhà nên tin tưởng nhau. Tòa án đã yêu cầu anh cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc chị Y cho anh và chị T1 vay số tiền 30.000.000 đồng nhưng do hai bên không lập biên bản gì với nhau nên anh không cung cấp được cho Tòa án.

Anh xác nhận số tiền 30.000.000 đồng này là công nợ chung của anh và chị T1 trong thời kỳ hôn nhân. Mục đích vay tiền để vì mục đích chung là làm nhà. Do đó, anh chị đều phải có nghĩa vụ cùng nhau trả nợ số tiền trên.

Nay chị Y khởi kiện thì anh đồng ý trả nợ cho một mình chị Y số tiền 15.000.000 đồng. Giữa anh và chị Y đã thỏa thuận được với nhau về việc trả nợ cho chị Y số tiền 15.000.000 đồng. Ngoài ra, đề nghị Tòa án buộc chị T1 trả cho một mình chị Y số tiền 15.000.000 đồng.

Ngoài ra, anh Tạ Văn T không có ý kiến nào khác.

- Tòa án đã tiến hành thông báo thụ lý vụ án, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho chị T1, nhưng chị T1 không có ý kiến gì và không đến Tòa án để làm việc.

- Ngày 03 tháng 01 năm 2025, Tòa án tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng chị Vi Thị T1 vắng mặt nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

- Ngày 22 tháng 01 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Lục Nam mở phiên tòa, chị Vi Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đề nghị hoãn phiên tòa nên Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay các đương sự trình bày như sau: + Ông Tạ Văn L trình bày: Tại phiên tòa ngày hôm nay ông đồng ý tiếp tục nhận ủy quyền của chị Y và ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc đề nghị HĐXX giải quyết buộc anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 phải trả cho chị Y số tiền 30.000.000 đồng, mỗi người trả 15.000.000 đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên toà hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị HĐXX xét xử vụ án theo thủ tục chung.

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 385, 463, khoản 1, 5 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; để:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Y, buộc anh Tạ Văn T phải trả cho chị Tạ Thị Y số tiền 15.000.000 đồng và buộc chị Vi Thị T1 phải trả cho chị Tạ Thị Y số tiền là 15.000.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Chị Vi Thị T1 và anh Tạ Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại án phí dân sự sơ thẩm cho chị Tạ Thị Y.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau nghe khi ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của chị Tạ Thị Y là ông Tạ Văn L có mặt, bị đơn là anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 có địa chỉ cư trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ vào Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, chị Tạ Thị Y cho anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 vay số tiền là 30.000.000 đồng, khi vay không lập biên bản, hai bên không thỏa thuận thời hạn trả và không thỏa thuận lãi suất.

Vì vậy, tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.

Về nội dung:

Năm 2019, chị Tạ Thị Y cho anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 vay số tiền là 30.000.000 đồng, khi vay không lập biên bản, hai bên không thỏa thuận thời hạn trả và không thỏa thuận lãi suất, các đương sự không nhớ vay ngày nào, mục đích chị Y cho anh T và chị T1 vay tiền là để trả nợ tiền làm nhà.

Nay, chị Y đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh T và chị T1 phải trả cho chị Y tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Chị Y xác định số tiền này là của một mình chị cho anh T và chị T1 vay, không liên quan đến anh D.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Y về việc buộc anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 phải trả cho chị Y số tiền là 30.000.000 đồng thì thấy:

- Anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 kết hôn với nhau năm 2010, quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã giải quyết ly hôn năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Lục Nam. Anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 có vay của chị Y số tiền là 30.000.000 đồng. Vì vậy, cần xác định đây là công nợ chung của anh T và chị T1 trong thời kỳ hôn nhân.

- Quá trình giải quyết vụ án, chị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng chị T1 không đến Tòa án làm việc và cũng không trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, tại bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 11/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam về việc chia tài sản sau khi ly hôn giữa chị Vi Thị T1 và anh Tạ Văn T thì chị T1 có thừa nhận chị và anh T có nợ của chị Y số tiền là 30.000.000 đồng. Chị T1 đồng ý có trách nhiệm trả nợ số tiền này cho chị Y cùng với anh T. Hiện nay bản án số 92/2024/HNGĐ-ST ngày 11/9/2024 đã có hiệu lực pháp luật.

Xét thấy:

Mặc dù khi chị Y cho anh T và chị T1 vay tiền, hai bên không lập biên bản gì, không thỏa thuận lãi suất, không thỏa thuận thời hạn trả. Nhưng anh T thừa nhận có nợ của chị Y số tiền 30.000.000 đồng, chị T1 thừa nhận nợ chị Y số tiền 30.000.000 đồng và chị đồng ý trả chị Y một nửa số tiền trên là 15.000.000 đồng, số tiền này anh T, chị T1 vay là phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và mục đích vay tiền là để làm nhà. Mặc dù chị Y không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh việc chị Y cho anh T, chị T1 vay số tiền 30.000.000 đồng. Nhưng do chị T1 và anh T đều công nhận có nợ chị Y số tiền 30.000.000 đồng nên căn cứ Điều 92 của BLTTDS thì đây là tình tiết sự kiện không phải chứng minh. Vì vậy, cần công nhận sự thỏa thuận của chị Y và anh T, chị T1 về việc anh T và chị T1 còn nợ chị Y số tiền 30.000.000 đồng.

Từ những nhận định nêu trên, HĐXX có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Y, buộc anh Tạ Văn T phải trả cho chị Tạ Thị Y số tiền là 15.000.000 đồng và buộc chị Vi Thị T1 phải trả cho chị Tạ Thị Y số tiền là 15.000.000 đồng là phù hợp với Điều 463 của Bộ luật dân sự.

Về lãi suất:

Chị Y tự nguyện không yêu cầu anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 phải trả lãi suất cho chị Y. Xét thấy, việc chị Y không yêu cầu anh Tạ Văn T và chị Vi Thị T1 phải trả lãi suất cho chị Y là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc nên HĐXX cần chấp nhận và không xem xét về phần lãi suất.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Anh Tạ Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 750.000 đồng.

- Chị Vi Thị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 750.000 đồng.

- Trả lại tiền tạm ứng án phí cho chị Tạ Thị Y.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Điều 385, điều 463, khoản 1 Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tạ Thị Y, buộc anh Tạ Văn T phải có nghĩa vụ trả cho chị Tạ Thị Y số tiền là 15.000.000 đồng, buộc chị Vi Thị T1 phải có nghĩa vụ trả cho chị Tạ Thị Y số tiền là 15.000.000 đồng.

2. Về án phí: Anh Tạ Văn T phải chịu 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; chị Vi Thị T1 phải chịu 750.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho chị Tạ Thị Y 750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004384 ngày 08/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

5. Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ