- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "NH Đại Chúng - Công"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Mai Quốc C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 11/2025/DS - ST Ngày: 22 - 7 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Thắm
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quốc Tiến
2. Bà Trần Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 128/2025/TLST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2025 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2025/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đ (P)
Địa chỉ: Số B đường N, phường H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình L - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị P.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng Trung N - Chức vụ: Phó Giám đốc Khối Quản lý và tái cấu trúc tài sản (theo Giấy ủy quyền số: 10772/UQ-PVB ngày 10/6/2020).
Người nhận ủy quyền lại: (theo Giấy ủy quyền số: 5342/UQ-PVB ngày 17/10/2024)
- Ông Nguyễn Trọng N1 – Chức vụ: Giám đốc khách hàng cá nhân.
- Bà Trịnh Quyền A – Chức vụ: Chuyên viên quản lý khách hàng.
(bà Trịnh Quyền A có mặt)
2. Bị đơn: Ông Mai Quốc C, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Lô B – căn 20, hẻm G đường M, phường R, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ trình bày:
P – chi nhánh K đã ký kết các hợp đồng tín dụng với ông Mai Quốc C, nguyên là nhân viên làm việc tại P – chi nhánh K, bao gồm:
- Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số: 1404/2022/HĐTD/PVB-CNKG (khoản góp lương) ngày 14/4/2022; số tiền vay giải ngân là 150.000.000 đồng; hình thức giải ngân bằng tiền mặt, số tiền giải ngân được chuyển khoản vào tài khoản của khách hàng mở tại P; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay 16%/năm áp dụng trong 03 tháng đầu; từ ngày 14/7/2022 lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/ lần, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Phương thức trả nợ: nợ gốc trả đều trong 60 kỳ vào ngày 20 hàng tháng với số tiền trả nợ gốc là 2.500.000 đồng; mỗi kỳ có thời hạn 01 tháng; ngày kết thúc kỳ cuối cùng là ngày kết thúc thời hạn cho vay. Kỳ hạn trả nợ lãi: thực hiện trả nợ lãi vào ngày 20 hàng tháng cùng với ngày trả nợ gốc. Số tiền lãi của kỳ lãi cuối cùng sẽ được trả vào ngày trả nợ gốc cuối cùng. Ngày trả nợ đầu tiên là ngày 20/4/2022. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã thanh toán được nợ gốc 48.957.037 đồng; nợ lãi 18.521.845 đồng.
Dư nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (22/7/2025) bao gồm: Nợ gốc trong hạn 50.000.000 đồng; nợ gốc quá hạn 51.042.963 đồng, tổng nợ gốc 101.042.963 đồng; nợ lãi trong hạn 26.111.129 đồng, nợ lãi quá hạn 11.987.279 đồng; lãi chậm trả 2.478.380 đồng; tổng lãi 40.576.788 đồng; tổng cộng gốc lãi tạm tính là 141.619.751 đồng.
- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/4/2022, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng; lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng 18%/năm và được điều chỉnh theo quy định của P trong từng thời kỳ. Do khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên P đã khóa thẻ.
Dư nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (22/7/2025) bao gồm: Nợ gốc 39.328.891 đồng; nợ lãi 28.532.361 đồng; nợ phí 15.950.575 đồng (bao gồm phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí vượt hạn mức, phí chậm thanh toán), tổng cộng gốc lãi tạm tính là 83.811.827 đồng.
P khởi kiện yêu cầu ông Mai Quốc C phải trả tổng số nợ gốc và lãi tạm tính nêu trên của 02 hợp đồng tín dụng; đồng thời tiếp tục chịu lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ cho ngân hàng, theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
Tại phiên tòa, bà Trịnh Quyền A - đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên lời trình bày như trên và tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2024 về nội dung nếu ông C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và lãi phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản và nguồn thu hợp pháp của ông C để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho P; vì nội dung này nằm ở thủ tục thi hành án không trong phạm vi xét xử.
Bị đơn ông Mai Quốc C: Không nộp văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem xét.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng, ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án, xem xét việc thụ lý vụ án và tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ quy định tại Điều 90, 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 7, 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 22/7/2025 là 225.431.578 đồng và lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 23/7/2025 đến khi thanh toán dứt điểm nợ cho nguyên đơn. Đồng thời căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ đối với nội dung yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Mai Quốc C, đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Mai Quốc C là bị đơn có nơi cư trú tại phường R, tỉnh An Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - An Giang.
Về nghĩa vụ chứng minh của bị đơn: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay bị đơn ông Mai Quốc C không có mặt theo thông báo của Tòa án, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như xác định trách nhiệm của mình đối với khoản vay nguyên đơn yêu cầu trả hoặc có ý kiến phản đối lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết. Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về nghĩa vụ chứng minh của đương sự thì “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” và “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, ông C đã không tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và phải chịu hậu quả về việc không chứng minh được. Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về Hợp đồng tín dụng:
Ông Mai Quốc C có vay vốn tại P - chi nhánh tỉnh K (nay là tỉnh An Giang), hình thức vay không có tài sản bảo đảm; chi tiết các khoản vay như sau:
- Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số: 1404/2022/HĐTD/PVB-CNKG (khoản góp lương) ngày 14/4/2022; số tiền vay giải ngân là 150.000.000 đồng; hình thức giải ngân bằng tiền mặt, số tiền giải ngân được chuyển khoản vào tài khoản của ông C mở tại P; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay 60 tháng. Phương thức trả nợ: nợ gốc trả đều trong 60 kỳ vào ngày 20 hàng tháng với số tiền trả nợ gốc là 2.500.000 đồng; mỗi kỳ có thời hạn 01 tháng; ngày kết thúc kỳ cuối cùng là ngày kết thúc thời hạn cho vay. Kỳ hạn trả nợ lãi: thực hiện trả nợ lãi vào ngày 20 hàng tháng cùng với ngày trả nợ gốc. Số tiền lãi của kỳ lãi cuối cùng sẽ được trả vào ngày trả nợ gốc cuối cùng. Ngày trả nợ đầu tiên được xác định là ngày 20/4/2022.
- Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/4/2022, chủ thẻ là Mai Quốc C, hạn mức thẻ 50.000.000 đồng; lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng 18%/năm và được điều chỉnh theo quy định của P trong từng thời kỳ.
Xét thấy các hợp đồng tín dụng nên trên đã được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy định, nội dung thỏa thuận không trái quy định pháp luật. Do đó căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Hội đồng xét xử công nhận các hợp đồng tín dụng nêu trên giữa P và ông C là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.
Xét quá trình thực hiện hợp đồng:
- Đối với Giấy đề nghị cấp tín dụng, đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng số: 1404/2022/HĐTD/PVB-CNKG (khoản góp lương) ngày 14/4/2022: Căn cứ theo lệnh chuyển khoản ngân hàng cung cấp xác nhận khoản vay 150.000.000 đồng đã được giải ngân ngày 14/4/2022 vào tài khoản của ông C mở tại P. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông C đã thanh toán được nợ gốc theo kỳ được tổng số tiền là 48.957.037 đồng, nợ lãi 18.521.845 đồng. Ông C bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ và khoản vay chịu lãi nợ quá hạn và lãi chậm trả từ ngày 21/11/2022.
Dư nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (22/7/2025) bao gồm: Nợ gốc trong hạn 50.000.000 đồng; nợ gốc quá hạn 51.042.963 đồng, tổng nợ gốc 101.042.963 đồng; nợ lãi trong hạn 26.111.129 đồng, nợ lãi quá hạn 11.987.279 đồng; lãi chậm trả 2.478.380 đồng; tổng lãi 40.576.788 đồng; tổng cộng gốc lãi tạm tính là 141.619.751 đồng.
- Đối với Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 07/4/2022: Căn cứ Bảng kê tính lãi chi tiết của P, xác định ông C đã sử dụng số tiền trong hạn mức được cấp và phát sinh dư nợ tính lãi một cách liên tục từ thời điểm 19/4/2022, lần cuối phát sinh giao dịch chi tiêu là ngày 13/11/2023.
Dư nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (22/7/2025) bao gồm: Nợ gốc 39.328.891 đồng; nợ lãi 28.532.361 đồng; nợ phí 15.950.575 đồng (bao gồm phí thường niên, phí rút tiền mặt, phí vượt hạn mức, phí chậm thanh toán), tổng cộng gốc lãi tạm tính là 83.811.827 đồng.
Căn cứ Điều 463, Điều 466 và 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản, nghĩa vụ trả nợ của bên vay và khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và căn cứ vào các hợp đồng tín dụng hai bên đã giao kết; xét thấy buộc ông C phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ vay gốc, lãi trên nợ gốc trong hạn, lãi quá hạn, lãi phạt chậm trả và nợ phí của thẻ tín dụng cho ngân hàng là đúng quy định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông C có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số nợ của 02 hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (22/7/2025) tổng cộng là 225.431.578 đồng; đồng thời buộc bị đơn ông C phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên 02 hợp đồng tín dụng kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán dứt điểm hợp đồng.
Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn xác định theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2024, P có nội dung yêu cầu nếu ông C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và lãi phát sinh thì P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản và nguồn thu hợp pháp của ông C để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho P; vì 02 hợp đồng tín dụng nêu trên không có tài sản bảo đảm khoản vay; nội dung này nằm ở thủ tục xác minh tài sản của bên có nghĩa vụ thi hành án để thi hành bản án đã có hiệu lực của Tòa án, không trong phạm vi xét xử; nên đại diện P tự nguyện rút lại nội dung yêu cầu khởi kiện này.
Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện và đúng quy định pháp luật nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu nguyên đơn đã rút.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Bị đơn ông C phải chịu án phí trên số tiền bị buộc trả 225.431.578 đồng, án phí được xác định là 11.271.578 đồng (225.431.578 đồng x 5%).
Nguyên đơn P được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.622.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0014343 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – An Giang).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025, khoản 1 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 266, Điều 273, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 463, 466 và 470 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bị đơn ông Mai Quốc C.
1. Buộc ông Mai Quốc C có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ số tiền vay tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (22/7/2025) tổng cộng là 225.431.578 đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi tám đồng) (trong đó: khoản vay góp lương nợ gốc 101.042.963 đồng, nợ lãi 40.576.788 đồng; khoản vay thẻ tín dụng nợ gốc 39.328.891 đồng, nợ lãi 28.532.361 đồng, nợ phí 15.950.575 đồng).
Đồng thời ông Mai Quốc C phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong 02 hợp đồng tín dụng, kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm đến khi trả hết nợ.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ về nội dung yêu cầu nếu ông Mai Quốc C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ và lãi phát sinh thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, phát mãi tài sản và nguồn thu hợp pháp của ông C để thanh toán nghĩa vụ trả nợ
3. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Mai Quốc C phải chịu án phí giá ngạch là 11.271.578 đồng (mười một triệu hai trăm bảy mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi tám đồng).
Ngân hàng thương mại cổ phần Đ được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.622.000 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0014343 ngày 20/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – An Giang).
4. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày; đương sự có mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh An Giang; - VKSND KV1-An Giang; - Phòng THADS KV1-An Giang; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Hoàng Hồng Thắm |