vanban.org

Bản án 11/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2023. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BẢO L

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 11/2024/HSST
Ngày 25/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy Thành

Các Hội thẩm nhân dân: bà Trần Thị Quế

bà Hồ Thị Hồng Liên

- Thư ký phiên tòa: ông Trương Quang Vũ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L tham gia phiên toà: ông Lê Hữu Việt Phú- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo L xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/HSST ngày 22/02/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/HSST-QĐ ngày 11/3/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Ngọc S, tên gọi khác: Minh, sinh năm 1994 tại tỉnh Lâm Đồng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: thôn 3, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc Năm, sinh năm 1973 hiện sống tại thôn 8, xã Hòa Nam, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và bà Phạm Thị Tươi, sinh năm 1975 hiện trú tại thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng ; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ Nguyễn Thị Trà My, sinh năm 2002, đã ly hôn, con có 01 người con, sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2023 đến ngày 28/11/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo L. Có mặt.

Người chứng kiến:

Anh Trần Nguyên T, sinh năm 1992

Địa chỉ: thôn 8, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1974

Địa chỉ: thôn 2, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Ngọc S là đối tượng nghiện ma túy. Vào tối ngày 18/11/2023, S đi từ ngã 3 Tà ngào, thôn 8A, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng. Sau đó, S mang ma túy về chỗ S thuê trọ để sử dụng một ít, số còn lại cất giấu dưới nệm trên giường ngủ của S. Đến 15h00 phút ngày 19/11/2023 khi Công an xã Lộc Nam mời lên làm việc, S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Công an xã Lộc Nam đã tiến hành kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 1264/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: mẫu tinh thể đựng trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5219g (không phẩy năm hai một chín gam), loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSBL ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Lê Ngọc S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo trình bày: bị cáo Lê Ngọc S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không đề nghị

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong ghi số 1246-2023/PC09 ghi vụ Lê Ngọc S -1994, HKTT: thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L; QĐTC 271/QĐ-DCSMT; 20/11/2023; Bao gói vật chứng; 01 phong bì niêm phong ghi số 1246-2023/PC09 ghi vụ Lê Ngọc S -1994, HKTT: thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L; QĐTC 271/QĐ-DCSMT; 20/11/2023; Hoàn lại mẫu vật 0,4004g đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Bảo L, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo:

Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thể hiện: bị cáo là người nghiện ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tối 18/11/2023, Lê Ngọc S đến khu vực ngã 3 Tà ngào, thôn 8A, xã Lộc Thành, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng mua của một người đàn ông chưa xác định được nhân thân, lai lịch 01 gói ma túy đá với giá tiền 1.000.000 đồng mang về sử dụng và cất giấu trong phòng ngủ tại nhà thuê ở thôn 3, xã Lộc Nam, huyện Bảo L, tỉnh Lâm Đồng, đến 15 giờ 00 phút ngày 19/11/2023 thì Công an xã Lộc Nam mời lên làm việc, S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cơ quan Công an xã Lộc Nam đã tiến hành kiểm tra lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5219g, loại Methamphetamine, bị cáo tàng trữ với mục đích sử dụng cá nhân.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng và các chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên toà, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 0,5219g, loại Methamphetamine. Đây là chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội, chỉ sử dụng chất này trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo L đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nếu không được phát hiện kịp thời sẽ làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bản thân bị cáo nhận thức được ma tuý là chất độc hại, một loại hàng đặc biệt do nhà nước độc quyền quản lý, bất kỳ ai vi phạm đến ma tuý, tuỳ tính chất mức độ đều bị xử lý nghiêm bằng luật hình sự.

Để trừng trị nghiêm khắc hành vi phạm tội, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và ngăn ngừa phạm tội mới, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật nên cần phải xét xử và áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Từ những phân tích trên, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo bị cáo và để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, đối với người đàn ông chưa xác định được nhân thân lai lịch đã bán ma túy cho bị cáo S có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bảo L đã tách ra để xử lý sau là đúng pháp luật.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 1246-2023/PC09 ghi vụ Lê Ngọc S -1994, HKTT: thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L; QĐTC 271/QĐ-DCSMT; 20/11/2023; Bao gói vật chứng; 01 phong bì niêm phong ghi số 1246-2023/PC09 ghi vụ Lê Ngọc S -1994, HKTT: thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L; QĐTC 271/QĐ-DCSMT; 20/11/2023; Hoàn lại mẫu vật 0,4004g

Về án phí: bị cáo Lê Ngọc S phạm tội nên buộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc S 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/11/2023.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong ghi số 1246-2023/PC09 ghi vụ Lê Ngọc S -1994, HKTT: thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L; QĐTC 271/QĐ-DCSMT; 20/11/2023; Bao gói vật chứng; 01 phong bì niêm phong ghi số 1246-2023/PC09 ghi vụ Lê Ngọc S -1994, HKTT: thôn 4, xã Lộc Nam, huyện Bảo L; QĐTC 271/QĐ-DCSMT; 20/11/2023; Hoàn lại mẫu vật 0,4004g.

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Lê Ngọc S phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 25/3/2024 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thị Hồng Liên Trần Thị Quế

Vũ Thị Thúy Thành

Cỡ chữ