vanban.org

Bản án 11/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng Tuyên án 31/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 02/11/2023. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGŨ HÀNH SƠN
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST
Ngày: 31- 01- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN- TP. ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Mai Văn Ba

- Ông Huỳnh Bá Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phương- Là Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo: NGUYỄN MINH H. Sinh ngày: 07/7/1998, tại Quảng Nam; Nguyên quán: Huyện Quảng T, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKHKTT và chổ ở hiện nay: K19/18, Lê Đình T1, phường Hòa Thuận Đ, quận Hải C, TP. Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; thẻ CCCC: 048098004419. Con ông Nguyễn Chi P và bà Phạm Thị Thanh T2 (C); Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 16/8/2022, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành án tại trại giam Bình Điền, đến 09/9/2023 chấp hành xong về lại địa phương (Theo giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 768/GCN ngày 09/9/2023).

Tiền sự: Ngày 04/01/2021, đi cai nghiện bắt buộc đến 29/12/2021 chấp hành xong.

Nhân thân: - Năm 2016, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành án tại trại giam Bình Điền;

- Tháng 8/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; chấp hành án tại trại giam Bình Điền. Bị cáo bị bắt ngày 02/11/2023- Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm: 1990 HKTT: Thị trấn Thạnh M, huyện Nam G, tỉnh Quảng Nam; Chỗ ở hiện nay: Số 79 đường Hoài T3, phường Mỹ A, quận Ngũ Hành S, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị L, sinh năm: 1952 Địa chỉ: Tổ 27, phường Hòa Thuận Đ, quận Hải C, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt;

- Người tham gia tố tụng khác: * Người làm chứng: 1. Ông Hoàng Chiến T4, sinh năm: 1990 Địa chỉ: Khối phố 8, phường 5, thành phố Đông H, tỉnh Quảng Trị- Vắng mặt; 2. Ông Nguyễn Thanh L1. Sinh năm: 1986 Địa chỉ: Tổ 49, phường Hòa Khánh N, quận Liên C1, TP. Đà Nẵng- Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định trộm cắp tài sản nên vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 02/11/2023, Nguyễn Minh H điều khiển xe mô tô hiệu DYA, màu sơn đen, biển kiểm soát 43K3-1383 đi từ nhà số K19/18 đường Lê Đình Thám, phường Hòa Thuận Đông, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng qua địa bàn phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đi đến trước quán nhậu 23Dô trên đường Trần Bạch Đằng, phường Mỹ An do ông Nguyễn Văn V làm quản lý, thì H phát hiện có 01 cái dù di động, màu trắng đang để trước quán, không có người trông giữ. Lúc này, H để xe mô tô ngoài lề đường phía trước quán, rồi đi bộ vào trong và lấy trộm cái dù trên. Khi H đang di chuyển cái dù bỏ lên xe mô tô để chở đi tiêu thụ thì bị ông Hoàng Chiến T4 phát hiện và bắt giữ lại. Sau đó, ông T4 cùng người dân xung quanh trình báo vụ việc và bàn giao H cho cơ quan công an.

* Tang vật tạm giữ của Nguyễn Minh H:

- 01 xe mô tô hiệu DYA, màu sơn đen, số khung: 1200552, số máy: 1200552, biển kiểm soát 43K3-1383;

- 01 (một) cái dù di động, màu trắng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND quận Ngũ Hành Sơn kết luận: Tài sản bị chiếm đoạt là 01 cái dù di động, màu trắng có giá trị tại thời điểm tháng 11/2023 là: 4.050.000 đồng.

Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-NHS ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng thực Hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra ông Nguyễn Văn V đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến.

Về vật chứng: Đối với 01 cái dù di động của ông Nguyễn Văn V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã trả lại cho ông V là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô hiệu DYA, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Huy Sơn (chết năm 2014) hiện do vợ ông Sơn là bà Lê Thị L quản lý sử dụng; bà L cho H mượn xe để đi công việc, không biết H sử dụng xe vào việc trộm cắp tài sản. Do đó, Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn đã trả lại xe mô tô hiệu DYA cho người đại diện hợp pháp là bà L là có căn cứ.

Những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 02/11/2023, tại trước quán nhậu 23Dô trên đường Trần Bạch Đằng, phường Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng, Nguyễn Minh H đã lén lút trộm cắp 01 cái dù di động màu trắng, trị giá 4.050.000 đồng của ông Nguyễn Văn V. [3]

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Minh H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như cáo trạng số 09/CT-VKS-NHS ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Minh H là thanh niên trưởng thành, lẽ ra bị cáo phải lo lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, chỉ muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn mục đích cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh H đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản được pháp luật bảo vệ, phạm vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây thiệt hại về tài sản cho người bị hại mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Bản thân bị cáo đã có tiền án; ngày 16/8/2022, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. 01 tiền sự; ngày 04/01/2021, đi cai nghiện bắt buộc đến 29/12/2021 và có nhân thân xấu; năm 2016, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 8/2018, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù chưa được xóa án tích nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, với trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.050.000 đồng, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra, xử cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Song xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản thiệt hại không lớn nên áp dụng điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình. [4] Xét về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ án xảy ra ông Nguyễn Văn V đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập đến. [5] Xét về vật chứng: Đối với 01 cái dù di động của ông Nguyễn Văn V, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn, TP. Đà Nẵng đã trả lại cho ông V là có căn cứ.

Đối với 01 xe mô tô hiệu DYA, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Huy Sơn (chết năm 2014) hiện do vợ ông Sơn là bà Lê Thị L quản lý sử dụng; bà L cho H mượn xe để đi công việc, không biết H sử dụng xe vào việc trộm cắp tài sản. Do đó, Cảnh sát điều tra Công an quận Ngũ Hành Sơn đã trả lại xe mô tô hiệu DYA cho người đại diện hợp pháp là bà L là có căn cứ. [5] Hội đồng xét xử xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn tại phiên tòa về căn cứ các điều luật áp dụng cũng như đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 02/11/2023.

Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 31/01/2024.

Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ